Ông gì ông ổng

Có lẽ do ảnh hưởng cách dịch của Ngọc Thứ Lang, khi chyển ngữ tiểu thuyết “The Godfather” của Mario Puzo tại miền Nam năm 1969: Từ nghĩa gốc “người đỡ đầu” khi sang tiếng Việt trở thành “bố già”, và đã được hiểu qua nghĩa ông trùm - người nhiều quyền lực, uy lực, có thể can thiệp mọi nơi mọi chốn.

Một khi từ “bố già” được hiểu theo nghĩa ông trùm, dần dà nó “lấn lướt” qua mặt các từ khác cùng nghĩa như đầu sỏ, ông gộc. Trước đó, “bố già” chưa hiểu như nghĩa ông trùm. Năm 1945, nhà thơ Đồ Phồn viết:

Lãi tháng bố già xơi ngọt xớt,

Cơm ngày cậu cả sống ngon ơ.

Bố là tía, cha, ba quen thuộc trong cách xưng hô. Mới lên chức bố, chưa già, vẫn còn trẻ, vừa sinh được con gái, mọi người gọi “bố đĩ”; đẻ con trai gọi “bố cu”. Ngoài ra người ấy, còn gọi bố gì nữa? Khi cụ Nguyễn Khuyến viết câu đối:

Thiếp kể từ lá thắm xe duyên, khi vận tía lúc cơn đen, điều dại điều khôn nhờ bố đỏ;

Chàng ở dưới suối vàng nghĩ lại, vợ má hồng con răng trắng, tím gan tím ruột với ông xanh.

Qua các sắc màu ấy, ta biết cụ viết hộ người phụ nữ có chồng làm nghề thợ nhuộm; từ “bố đỏ” cho biết anh chồng ấy chết trẻ, chỉ mới vừa có con. Mà này bạn mình ơi, do đâu từ “bố già” nhanh chóng được chấp nhận qua nghĩa “ông trùm”? Theo tôi, vì từ trùm không hề xa lạ trong tâm thức của người Việt.

Ảnh: L.G
Ảnh: L.G

Từ xa xưa, hễ người đó lúc gặp chuyện lại nói tới tấp/ chửi mắng xối xả, liên tục, trùm lên ý kiến của mọi người, không phân biệt, không kiêng nể ai, người ta gọi là “Ăn nói trùm lớp”, “chửi trùm chửi lớp”. Trùm còn là phủ kín; lớp là nhiều tầng mỏng xếp chồng lên nhau. 

“Nói lớp” là nói bao trùm, vơ trùm tất tần tật, không kiêng nể ai, “Việt Nam tự điển” (1931) giải thích. Tuy nhiên câu văn trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố: “Thợ cày và tuần phu đều biết cái hách dịch của ông Lý, ai nấy chỉ đáp lại những câu chửi chùm chửi lợp bằng sự nín im”- nếu viết đúng chính tả phải là “chửi trùm chửi lớp” chăng? 

Hay “chửi chùm chửi lợp” cũng là cách nói tương tự? Chắc là thế, “chùm” nhiều cái dính xúm xít với nhau; lợp là xếp từng lớp, mí này đè kín mí kia để không gì lọt xuống được. Xét ra, trùm/ chùm và lớp/ lợp cũng na ná ngữ nghĩa.

Trùm nhằm chỉ kẻ cầm đầu băng nhóm, hiểu theo nghĩa xấu mà ngay cả những ai lương thiện, đứng đầu phường hội, làng nghề cũng gọi ông trùm, chẳng hạn trùm phường chèo. Nay, còn gọi bầu như ông bầu gánh hát... 

Với từ ông trong tiếng Việt, khi khảo sát, ta sẽ ngạc nhiên đến thú vị. Chẳng hạn, trong tự truyện “Ông bình vôi”, nhà văn hóa Phan Khôi cho biết: “Ở vùng quê chúng tôi, mà có lẽ cả nước Việt Nam cũng vậy, vật gì nó có thể hại mình được thì gọi bằng “ông”, vật gì nó to hay sống lâu năm thì cũng gọi bằng “ông” để tỏ lòng tôn kính, sùng bái”. 

Từ ông còn dùng để gọi con vật mà thiên hạ sợ hãi, kiêng dè như ông ba mươi/ ông thầy (cọp); ông tượng/ ông nậy (voi); ông tý (chuột), ông sấu (cá sấu)… Ngay cả một số vật dụng quen thuộc cũng có cách gọi như vậy, chẳng hạn ông bình vôi; ông núc/ bếp núc, tức ông táo/ ông bếp/ ông công”. Ông Phan Khôi nói đúng.  

Xin bổ sung thêm, ở trong Nam ngày xưa, cá sấu còn gọi ông dài; ngay cả lúc bị cảm cúm chữa mãi không  xong, cứ ì ạch xạch đụi, chán, người ta cũng gọi luôn bằng ông/ bà cho nó lành. Thí dụ “Ông cúm bà co”, ám chỉ người bị cảm cúm, cảm sốt. Trong một truyện ngắn, nhà văn Tô Hoài còn ghi lại được mấy câu “thần chú” chữa bệnh cảm cúm, cảm sốt của bọn thầy cúng bá láp thuở ấy:

Ông cúm bà co

Ông ở xứ Nghệ ông dò ra  đây

Tín chủ tôi xin biếu món quà này

Mắm tôm, kẹo bọt, bỏng, nắm bánh dầy, bánh đa

Ăn rồi, xin ông bước ra

Ông cúm bà co

Ông ở xứ Nghệ...

Câu hát được láy lên láy xuống nhiều lần. Hát mà vẫn chữa được bệnh à? Không, cuối cùng nhân vật trong truyện ngắn “Ông cúm bà co” phải ra… hụi nhị tì yên giấc ngàn thu. Ngạc nhiên chưa? Không thể hiểu nổi sao ngày ấy, con người ta lại mê tín đến thế?

Con chim phụng hoàng bay ngang hòn đá bạc/ Con cá ông ngóng nước biển Đông”. Cá ông trong câu ca dao này là một cách cung kính mà người dân làng chài gọi cá voi. Khi mất, cá ông dạt vào bờ, họ gọi “ông lụy” tin rằng: “Thấy ông vào làng như vàng vào tủ”. Ngay cả con lớn to béo nuôi để thịt lúc tế thần ở đình làng cũng tôn lên thành ông ỷ. 

Riêng ở Huế còn có ông vò gắn liền với sự kiện tương truyền sau khi lên ngôi, Vua Gia Long cho đào mả anh em Áo vải cờ đào: “Thi hài còn lại đem giã nhỏ và phân tán trong gió, còn 3 sọ dừa của 3 anh em nhà Tây Sơn thì bị giấu trong cái vò và đem nhốt trong ngục thất”, lính canh khám các tù nhân cúng bái và gọi ông vò - chi tiết này dẫn theo tài liệu của tập san “Những người bạn cố đô Huế” (1914), nhà nghiên cứu Bùi Minh Đức ghi nhận trong “Từ điển tiếng Huế” (NXB 2004, tr.726). 

Đã bàn thì bàn luôn thể, thời xa xưa, còn có cụm từ “ông trâu”, liệu có phải là cách tôn kính như gọi ông  hùm, ông cọp? Không, “ông trâu” là hiệu quan binh ngày xưa. Ngay cả “ông cò” cũng không liên quan gì đến “Con cò bay lả bay la” trong ca dao nước Việt từ hàng ngàn năm nay, chính là cách nói tắt/ nói trại của từ “commissaire: cảnh sát trưởng thời Pháp” như thơ Tú Xương có câu: “Hà Nam danh giá nhất ông cò”.

Thật thú vị, khi ra thăm Thần Kinh xứ Huế, ta lại được làm quen với… “ông cà lăm”. Ai đó? Chính là cách gọi dành cho loại khẩu súng thần công thời Nguyễn do bắn không nhạy, ngẫu hứng… khi nổ khi không, cà ạch cà đụi! Rõ chán. Thế không… cà lăm là gì? 

Không chỉ ở Huế, với loại súng lắp ba lắp bắp này, trong Nam cũng gọi tên y chang. Bằng chứng là trong biên khảo “Gò Công cảnh cũ người xưa”, cụ Việt Cúc kể, lúc giặc Pháp hãm thành Gò Công, nghĩa quân kháng chiến của anh hùng Trương Định trông cậy vào loại thớt súng này lắm, nhưng do súng chòi ngòi phải mất thời gian nhồi thuốc súng, đã thế: “Ông súng này lại còn bịnh hoạn hay chúng chứng làm eo, bặp bặp mà không nổ, vì thế mà đặt tên là Ông Cà lăm” (Tác giả Xuất bản năm 1969 - Tập 2, tr.13).        

Khó có thể giải thích vì sao khi dọa trẻ con, người ta lại nhắc đến ông kẹ, ông ngáo ộp, ông ba bị? Ở Nam Bộ xưa còn có câu “Ông Hoành, ông Trấm” - nhằm chỉ người ngang ngược, hung dữ thì lại “có tích có tuồng”: Đó là tên hai vị tướng theo giúp Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt) nổi dậy chống lại triều Nguyễn năm 1833. 

Lại nữa, dù không ai biết mặt mũi ra làm sao nhưng vẫn được gọi ông, chẳng hạn ông làng - tổ hát bội, ông táo, ông địa, ông thần tài, ông thiên lôi… Những ông này chẳng ai dám giỡn mặt nhưng ông tơ lại khác:

Quất ông tơ cái trót

Ổng nhảy tót lên ngọn cây bần

Biểu ổng se mối chỉ năm bảy lần, ổng không se

Ông tơ, còn có tên gọi khác là ông mai. Mai là mai mối, làm mối cho việc dựng vợ gả chồng. Nam Bộ có câu ca dao tình tứ, quyết liệt, rạch ròi và cho thấy không chỉ có ông mai:

Anh đi ngang cầu sắt

Anh nắm tay em thật chắc

Miệng hỏi gắt chung tình

Bướm xa bông tại nhụy, anh xa mình tại ai?

Cây oằn vì bởi trái sai

Anh xa em vì bởi bà mai ít lời

Bà mai, còn gọi bà nguyệt. Mà ông tơ bà nguyệt của đàng trai/ nhà gái không chỉ có tài ăn nói, hoạt ngôn mà cũng cần có thành tâm tác hợp cho đôi trẻ, cùng ăn ý ăn rơ với nhau, chứ không khéo “Ông hẹn trên bờ, bà quờ xuống ruộng”, “Ông chẳng bà chuộc”, “Ông nói gà, bà nói vịt” thì hư bột hư đường hết trọi. Còn ông bộ thì sao? 

Tục ngữ còn lưu lại câu “Một người làm quan cả họ được nhờ”. Nhưng làm quan thái giám ắt cái sự được nhờ ấy lại lớn lao hơn nhiều, vì không chỉ riêng trong một họ, một dòng tộc mà cả làng còn được nhờ. Do đó, mới có câu “Đẻ ông bộ cho làng nhờ” là vậy. 

Nói một cách ngắn gọn, ông bộ là người trung tính, lúc mới sinh ra đã không có bộ phận sinh dục gọi là giám sinh/ ông bộ nắp; còn người tự hoạn để được tuyển chọn hầu hạ trong cung cấm thì gọi giám lặt/ ông bộ thiến.

Tết đến sau lưng, ông vải thì mừng, con cháu thì lo”. Ông bà ông vải là tiếng gọi các bậc gia tiên đã khuất. Một khi nghe thấy từ ông, ta biết người đó ắt phải già, thế nhưng dù trẻ người non dạ vẫn được gọi ông ngon ơ, chẳng hạn bà mẹ mắng: “Thế nào, ông con còn ngủ nướng à? Dậy ngay cho mẹ nhờ” là tiếng gọi đùa, cưng chiều của các phụ huynh dành cho con mình. Nhưng “Con ông cháu cha” thì lại là con, cháu của người khác mà ngầm ý đó là những người có thế, có máu mặt, chẳng khác gì “Ông hoàng bà chúa”, “Ông to bà nậy”.

Ở phố Hàng Nâu có phỗng sành

Mắt thời thao láo, mặt thời xanh

Vuốt râu nịnh vợ, con bu nó

Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh

Ấy là cụ Tú Xương tự trào, mình chỉ là ông phỗng - là tượng người nặn bằng đất, sành đứng hầu ở đình chùa, nơi thờ tự, thường dùng để chỉ người hiền lành nhưng hơi bị đần, ngây ngô ngấy ngố, vì thế mới có câu mỉa: “Lấy chồng ông cống, ông nghè/ Lấy chồng ông phỗng cũng khoe lấy chồng”. Cũng gọi phỗng nhưng chắc gì đã là phỗng?

Bực chẳng nhẽ anh hùng khi vị ngộ

Như lúc đen chơi cuộc tổ tôm

Bài trạm thành cuối cánh phỗng ầm ầm

Ngồi thôi chẳng bốc quân rác rảnh

Phỗng trong câu thơ này của Tú Xương lại là từ “chuyên môn” của lối chơi tổ tôm, tài bàn, đại khái, “Mình có hai quân bài giống nhau, khi có quân bài thứ ba lên, bất cứ cửa nào cũng ăn được” (“Việt Nam tự điển”, 1931). Bị ai đó nhanh chóng, bất ngờ lấy cái gì đó cũng gọi là phỗng, thí dụ, “Món ấy hời quá, chưa khi kịp mua thì đã bị phỗng mất”, tức bị “phỗng tay trên”; tuy nhiên tùy ngữ cảnh, “phỗng” có thể thay thế bằng từ “nẫng”.

Còn ông gì nữa không?

Còn, chứ sao không. Ngay cả những đứa trẻ láu lỉnh, tinh quái, nghịch ngợm trổ trời còn được gọi ông mãnh. Với quan niệm của người Việt thì “Ông mãnh bà cô” còn được hiểu là những người chết yểu lúc còn trẻ, chưa lập gia đình hoặc bà cô, ông chú vẫn sống “đơn thân độc mã”, phòng không chiếc bóng cho đến lúc mất. Đôi khi gọi ông nhưng lại hàm ý xem thường. “Ông tiền ông thóc ông cóc gì ai”- sở dĩ gọi bằng ông vì lắm tiền, nhiều thóc chứ nào có đáng ra tư cách mà gọi ông. Nói cách khác “Ông gì ông ổng”, chỉ gọi ông cho văn vẻ, đỡ chướng tai. Nếu nói huỵch toẹt ra, chỉ đáng gọi… thằng/ thằng ông mà thôi.

Thánh cắt ông vào chủ việc thi

Đêm ngày coi sóc chốn trường qui

Chẳng hay gian dối vì đâu vậy?

Bá ngọ thằng ông biết chữ gì

Có thể nói “thằng ông” là từ mới mẻ của Tú Xương cũng như Bà chúa thơ Nôm đã sáng tạo ra từ “lộn lèo”. Sở dĩ Tú Xương cáu tiết gọi bằng cách ấy, ai đời ông huyện này được cử làm chánh chủ khảo là do người ta làm lễ khấn vái rồi xin keo âm dương hỏi ý kiến thánh thần. Keo xin được, tức xem như việc này do thánh cắt cử! Nhăng nhố đến thế là cùng.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?