Nữ thi sĩ Olga Berggoltz: Vinh quang và cay đắng

Phải nói rằng, một thời văn học Nga đã có ảnh hưởng rất lớn tới nhiều thế hệ độc giả Việt Nam. Một trong những nữ thi sĩ Nga được nhiều người biết đến chính là Olga Berggoltz, nhưng không phải ai cũng biết về cuộc đời đầy thăng trầm cay đắng của người đàn bà xinh đẹp và tài hoa này. 

Thơ của Olga Berggoltz rất nữ tính, dịu dàng và đầy trí tuệ. Bà là một trong rất ít những nữ sĩ người Nga được nhiều người trên thế giới biết đến và hâm mộ.

Cô công chúa tóc vàng xinh đẹp và thời thơ ấu êm đềm

Olga Berggoltz sinh ngày mồng 3 tháng 5 năm 1910 tại thành phố Saint Petersburg, nơi có dòng sông Neva huyền ảo và thơ mộng nhất thế gian. Cha bà - ông Phedor Kristophorovich Berggoltz là một bác sĩ phục vụ trong quân đội và sau này làm việc nhiều năm trong một nhà máy, chữa bệnh cho công nhân.

Bà Maria Timopheevna, mẹ của nữ thi sĩ là một phụ nữ xinh đẹp, dịu hiền, sinh hạ  hai cô con gái cùng bác sĩ Phedor. Gia đình bà sống ở khu Nevski và sau này một con phố ở đây được mang tên Olga Berggoltz. Tuổi thơ ấm êm không được bao lâu thì quê hương bà rơi vào cảnh súng đạn và đói kém.

Thuở nhỏ Olga Berggoltz là một cô bé xinh đẹp và đáng yêu, với đôi mắt xanh biếc và mái tóc vàng óng ả thừa hưởng gien của người cha, nhưng phảng phất trên gương mặt là một nét buồn như định mệnh cuộc đời bà sau này. Bà làm thơ rất sớm, từ năm 14 tuổi. Đó là bài thơ xúc động khi Lênin qua đời.

Người cha luôn là người khích lệ bà phát triển niềm say mê văn học và đi trên con đường thi ca của mình. Năm 16 tuổi, bà gia nhập một hiệp hội văn học, nơi nữ thi sĩ hy vọng sẽ được làm quen với các nhà thơ chuyên nghiệp như Mayakovsky và Bagritsky - những thần tượng văn học thời đó.

Hồng nhan bạc phận

Olga Berggoltz trải qua ba đời chồng và cuộc đời lận đận của bà bắt đầu từ các cuộc hôn nhân này. Mối tình đầu của Olga Berggoltz là với nhà thơ Boris Kornilov khi bà mới 15 tuổi. Non dại và đắm đuối, say thơ say tình nên họ làm đám cưới sau đó không lâu và có một con gái tên là Irina (bé mất khi mới 8 tuổi vì bệnh tim bẩm sinh). Bé gái thứ hai cũng bị bệnh tim và qua đời một năm sau đó.

Sau khi li dị với Boris, bà yêu và  kết hôn với  Nikolai Molchanov - một nhà phê bình văn học. Người  chồng cũ  Boris Kornilov đã bị bắn sau đó vì bị nghi ngờ là "phản bội lại chính quyền nhân dân".

Nữ thi sĩ Olga Berggoltz (1910-1975).
Nữ thi sĩ Olga Berggoltz (1910-1975).

Năm 1938, Olga bị vào tù trong lúc đang mang thai và mất đứa bé trong tù do liên đới với người chồng cũ. Đứa con sinh non khi thai nhi mới được 6 tháng tuổi. Một lần nữa người mẹ đau khổ ấy lại mất con… Bà đã từng đau đớn viết:

"Hai con tôi đã chôn ở dưới mồ
Tôi cô độc trên trần gian ai biết
Con gái thứ ba của tôi bị giết
Trong trại giam khi chưa được chào đời".

Năm 1942, người chồng thứ hai của nữ sỹ chết trong nạn đói khi Leningrad (tên gọi của Saint Petersburg khi ấy) bị quân Đức bao vây. Mất con, mất chồng liên tiếp, nỗi đau chồng lên nỗi đau.

Năm 1949 nữ thi sĩ đi bước nữa với Georgi Makogonenko và cuộc hôn nhân này kéo dài 10 năm. Người chồng thứ ba là nhà ngôn ngữ học, ông đã nâng bà dậy sau những đớn đau của cuộc đời liên tiếp đè nặng lên vai. Cả hai cùng viết chung những vở kịch, kịch bản phim và nhiều bút ký được đăng tải trên rất nhiều tạp chí và ấn phẩm thời bấy giờ. Có thể nói đây là thời kỳ hạnh phúc nhất của nữ sĩ.

Georgi Makogonenko là một anh chàng đẹp trai, lại làm việc ở xưởng phim, nơi có nhiều nữ diễn viên xinh tươi và trẻ đẹp luôn tìm cách tán tỉnh ông. Nữ sĩ yêu chồng trong tâm trạng bất an, say đắm và ghen tuông giằng xé. Rồi chuyện gì Olga Berggoltz luôn cảm nhận được bằng trực giác đàn bà cũng đã xảy ra, Georgi đã bỏ bà đi với một người đàn bà khác. Từ đó bà lao vào rượu vào thuốc lá để vùi quên. Những bài thơ buồn, cô đơn đến não nề và cả "âm thầm cay đắng ghen tuông" nữa có từ cuộc tình này.

Người ta cho rằng Makogonenko là nguyên nhân của sự cô đơn của Olga và dẫn đến những cơn say liên miên của nữ sĩ vào lúc cuối đời. Từ một phụ nữ xinh đẹp dịu dàng, bà đã hứng chịu không biết bao lời gièm pha của người đời khi trở thành một phụ nữ nát rượu bê tha. Mối tình với người chồng thứ ba này  đã mang lại cho bà tất cả những hệ lụy của tình yêu như nó vốn có. Ngọt ngào và đắng cay, khổ đau tột cùng và hạnh phúc vô biên.

Một cuộc đời tài hoa trải qua bao nhiêu bất hạnh được tái tạo trong những bài thơ tình mang tên Olga Berggoltz. Là người phụ nữ yêu đắm đuối mê say và cũng đau khổ vật vã vì yêu nên thơ của bà đi vào lòng người với rất nhiều cung bậc mãnh liệt. Có lúc bà tự ví phận mình như cây ngải đắng, qua bao thăng trầm vẫn bền bỉ sống và nở hoa bên đời.

Nhà thơ công dân của thành Leningrad

Người yêu thơ Việt Nam biết đến nữ sỹ Olga phần lớn qua các bài thơ tình trong khi phần lớn các tác phẩm của bà lại là thơ thế sự, phản ánh đúng cuộc chiến tranh lúc bấy giờ. Trong thời gian Leningrad bị bao vây (900 ngày đêm), bà đã viết những trường ca ca ngợi những người lính dũng cảm bảo vệ thành phố như: "Nhật ký tháng Hai", "Leningrad". Một câu nói nổi tiếng của bà được khắc trên bức tường của nghĩa trang thành phố là: "Không ai bị lãng quên, không điều gì bị lãng quên".

Năm 1941 khi chiến tranh nổ ra trên đất nước Xôviết, Olga Berggoltz làm việc tại Đài Phát thanh Leningrad. Bằng giọng nói ngọt ngào, bà đọc tin chiến sự và đọc thơ cho nhân dân nghe và cùng thành phố vượt qua những ngày tháng khó khăn do chiến tranh, đói khát và dịch bệnh. Nhà thơ công dân Olga Berggoltz đã nhận được nhiều huân, huy chương vì  những cống hiến cho Tổ quốc và được nhân dân thành phố Leningrad yêu quý và ngưỡng mộ. 

Là hội viên của Hội Nhà văn Liên Xô từ năm 24 tuổi, ngoài thơ bà còn là một nhà văn với rất nhiều tác phẩm đa dạng về thể loại như truyện, ký và kịch.

Olga Berggoltz mất năm 1975 (phần mộ của bà được đặt tại nghĩa trang Literatorskie Mostki), khép lại những đắng cay ngọt ngào mà tình yêu và số phận đã mang tới cho người đàn bà xinh đẹp và tài hoa này. Dư âm của cuộc đời bà đọng lại là những thi phẩm còn mãi với thời gian.

Nhân dịp kỷ niệm 110 năm ngày sinh của nữ sỹ, người  viết  bài  này  xin gửi tới bạn đọc một chùm thơ Olga Berggoltz do chính mình dịch để tưởng nhớ tới một thần tượng thi ca trong tim mình.

MỘT BÀI CA

Chúng mình chẳng gặp nhau nữa đâu -
tạm biệt nhé, hãy mỉm cười lên nhé…
Hãy nói rằng anh không hờn giận nữa
những tháng ngày nhanh qua?...

Đã qua rồi đã qua thật rồi ư
như gió lùa qua căn phòng lạnh lẽo
như bờ lau rền rĩ tiêu điều…

…Nếu chẳng nhớ em
                          như một người yêu
xin đừng nhớ em như một người quen cũ
mà nhớ em như một giấc mơ…

Những bài ca cuồng dại của em
có bím tóc đung đưa trong gió
theo bậc gỗ đi lên vựa cỏ
mỗi sớm mai run rẩy dịu dàng…

ÔI MÙA ĐÔNG U ÁM LÀM SAO …

Ôi mùa đông u ám làm sao,
những cơn bão tuyết lê thê chả ngớt!
Mặt trời ló vài tia yếu ớt
rồi lại đêm rồi bóng tối lại về…

Trong tim sao câm lặng nhường kia
không thanh âm không cả lời rên rỉ …
Nghe cái chết chẳng thèm đáp khẽ
Và ai trả lời? Trống rỗng mà thôi…

Ôi mùa đông này giá đừng có mùa đông…

Và dẫu rằng sự trìu mến của anh
quay trở về bất ngờ và vội vã
em đâu cần những đám mây như thế
phủ lên đời đời hoá tối tăm hơn

Lẽ nào em không đoán trước trong lòng
rồi sẽ đến một mùa đông u ám,
một mùa đông hoàn toàn không ánh sáng,
một mùa đông hoang lặng niềm vui?...

EM BUÔNG TAY...

Em đang làm gì?! Em buông tay...
khỏi người đàn ông, mình chinh phục được
dù phải chối bỏ bản thân, niềm mơ ước
hơi thở của chính mình...

Chẳng phải anh sao? - Số phận của em,
em gọi thế vì tình yêu đó
Em từng chạy theo anh vội vã
nguyện cầu có anh bằng những bài ca?

Tận cùng thế gian nơi vách đá mờ xa,
dưới gầm trời trải dài dãy núi
nơi đêm đen của miền biên giới,
tình yêu từng gắn bó hai ta...

Từng làm việc từng lang thang phiêu dạt
Anh và em đã chẳng rời xa,
bao nhiêu người ghen tỵ bởi tình ta
và bạn bè cũng từng tị nạnh...

Em đang làm gì?! Em buông tay ư?

Nguyệt Vũ

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.