NSƯT Lý Thái Dũng: Mỗi bộ phim là một thách thức

Công việc quay phim đòi hỏi sự tư duy, sáng tạo không ngừng nghỉ. Hết cảnh này sang cảnh khác, hết phim này sang phim khác, không phim nào giống phim nào và không có sự lặp lại. Công việc ấy đòi hỏi người làm phải có cái nhìn sắc sảo, phải có sự hình dung đồng điệu. Người quay phim cũng phải là người am hiểu để có thể chuyển dịch ngôn ngữ từ văn học sang thành hình ảnh, cùng với đạo diễn kể lại câu chuyện một cách tốt nhất bằng hình ảnh...

NSƯT, nhà quay phim Lý Thái Dũng là người thực hiện nhiều cảnh quay cho các phim truyện nhựa nổi tiếng như "Ngã ba Đồng Lộc", "Hàng xóm", "Thung lũng hoang vắng",  "Tết này ai đến xông nhà", "Vũ điệu tử thần", "Những người viết huyền thoại", "Chơi vơi", "Lời nguyền huyết ngải"... Ngoài nhiều giải thưởng cá nhân trong nước, năm 2010 nhà quay phim Lý Thái Dũng từng được tôn vinh là một trong 5 nhà quay phim xuất sắc nhất châu Á trong Liên hoan phim châu Á tổ chức tại Hồng Kông với "Chơi vơi" của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên. Chia sẻ với phóng viên Văn nghệ Công an, NSƯT Lý Thái Dũng cho hay: "Với tôi, mỗi bộ phim đều là một thách thức!".

- Thưa NSƯT Lý Thái Dũng, là Phó giám đốc Hãng phim truyện Việt Nam, đơn vị nhận "đặt hàng" sản xuất bộ phim truyện nhựa "Sống cùng lịch sử" vừa lùm xùm với các tít báo "phim triệu đô ra rạp không bán nổi một vé" - chắc hẳn có những tác động không nhỏ tới tâm trạng của cá nhân anh?

+ Tất nhiên là tôi buồn rồi. Không ai làm điện ảnh có thể dửng dưng trước một việc như thế. Sự việc cũng đã lắng xuống, nên bây giờ điều tôi muốn nói ở đây là xã hội ta, trong đó có các nhà báo đang có một sự thiếu tìm hiểu, thiếu cảm thông, thiếu thiện chí và cả thiếu công bằng với điện ảnh. Với cách nhìn nhận, đánh giá như thế này, các bạn ấy đã vô tình góp phần một lần nữa nhấn chìm một nền điện ảnh đang vô cùng khó khăn từ 20 năm nay.

Trong cuộc đời làm phim của tôi, tôi chưa thấy có một nhà báo nào đi theo đoàn làm phim chúng tôi để tìm hiểu, quan sát việc làm phim trọn vẹn 24 giờ chứ chưa nói một tuần hay một tháng để thấu hiểu việc làm phim, dù chỉ ở giai đoạn quay tiền kỳ để biết làm một bộ phim ở Việt Nam vất vả như thế nào. Tôi còn nhớ khi chúng tôi đang quay phim "Ngã ba Đồng Lộc" thì có một đoàn phóng viên của VTV3 vào chứng kiến chúng tôi làm việc khoảng 1 tuần gì đó và họ đã có được những phóng sự tuyệt vời, có sự cảm thông sâu sắc với chúng tôi.

NSƯT Lý Thái Dũng (trái) cùng đạo diễn Bùi Tuấn Dũng khi thực hiện phim “Những người viết huyền thoại”.

NSƯT Lý Thái Dũng (trái) cùng đạo diễn Bùi Tuấn Dũng khi thực hiện phim “Những người viết huyền thoại”.

- Được biết, cha anh là một người chẳng hề xa lạ với giới điện ảnh: đạo diễn - NSƯT Lý Thái Bảo. Điều này có là lý do ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của anh không?

+ Bố tôi là đạo diễn học khóa đầu tiên của điện ảnh Việt Nam cùng với các đạo diễn nổi tiếng như Hải Ninh, Trần Vũ, Bạch Diệp... Ông chỉ làm đạo diễn 2 phim truyện nhựa, sau đó chuyển sang làm phim tài liệu và từng đảm nhiệm các các vị trí như Hiệu trưởng Trường Sân khấu - Điện ảnh Việt Nam, Giám đốc Xưởng phim Tài liệu Trung ương, Tổng thư ký Hội Điện ảnh Việt Nam. Tôi vốn là người thích máy móc, công nghệ, thiết bị nên ước mơ của tôi là học chế tạo máy ở Trường Đại học Bách khoa cơ. Khi đó bố tôi cũng nói rằng tùy con lựa chọn thôi, nhưng ngành quay phim là một ngành rất hay, rất đặc biệt bởi nó một nửa là ứng dụng máy móc, khoa học kỹ thuật nhưng cũng có một nửa là phẩm chất nghệ sĩ. Thực sự thì lúc đó tôi thích học đạo diễn, bởi đạo diễn "oai" hơn. Nhưng bố tôi nói rằng, tôi còn trẻ quá, mới 18 tuổi thì nên học quay phim, đến khi có đủ trưởng thành, đủ tích lũy thì sang học đạo diễn vẫn chưa muộn. Nhưng đến nay, sau 30 năm gắn bó với máy quay, tôi vẫn chưa hết đam mê đối với công việc quay phim.

- Tại sao công việc quay phim lại hấp dẫn anh đến vậy, trong khi ngay từ đầu cuộc trò chuyện này anh đã nói đến những nỗi cực nhọc khi làm phim ở Việt Nam?

+ Đó là vì công việc quay phim đòi hỏi sự tư duy, sáng tạo không ngừng nghỉ. Hết cảnh này sang cảnh khác, hết phim này sang phim khác, không phim nào giống phim nào và không có sự lặp lại. Công việc ấy đòi hỏi người làm phải có cái nhìn sắc sảo, phải có sự hình dung đồng điệu. Người quay phim cũng phải là người am hiểu để có thể chuyển dịch ngôn ngữ từ văn học sang thành hình ảnh, cùng với đạo diễn kể lại câu chuyện một cách tốt nhất bằng hình ảnh.

- Có thể nói, bộ phim "Sự tích dã tràng" anh cộng tác với đạo diễn Nguyễn Khánh Dư đánh dấu sự thành công khởi đầu trên con đường quay phim chuyên nghiệp của anh. Đâu là lý do để một nhà quay phim gạo cội kiêm đạo diễn như Nguyễn Khánh Dư lựa chọn một tay máy trẻ hợp tác với mình?

+ Được cộng tác với một người nổi tiếng như Nguyễn Khánh Dư là một vinh dự lớn cho tôi. Tôi không rõ lắm lý do nào mình được chọn, có thể vì lúc đó tôi là quay phim của xưởng phim thanh thiếu niên mà "Sự tích dã tràng" là một phim dành cho thiếu nhi, song tôi thấy ông rất thoải mái và tin tưởng khi hợp tác với tôi. Năm đó tôi cũng không còn quá trẻ nữa, tôi đã 30 tuổi, cũng là lúc bắt đầu vững vàng rồi.

- Đến nay, anh đã thực hiện quay hơn 20 phim truyện nhựa với đủ các dạng đề tài từ phim chiến tranh, phim tâm lý xã hội đến phim kinh dị. Với anh, bộ phim nào khiến anh cảm thấy mình phải đối mặt với nhiều thách thức nhất?

+ Thực ra, mỗi bộ phim với tôi luôn là một thách thức mới. Nó trở nên khác nhau là bởi được làm ở những thời điểm khác nhau, trên nền tảng công nghệ và giá trị tài chính khác nhau nên những thách thức cũng khác nhau. Tôi cũng nói thêm rằng, chưa có ở đâu mà quá trình làm phim gánh nặng trách nhiệm lại đè lên vai người quay phim nhiều như ở Việt Nam. Đó là vì hệ thống thiết bị, công nghệ và cả con người hỗ trợ cho người quay phim chính ở Việt Nam rất ít ỏi, người ta vẫn quen với việc chỉ "một người, 1 máy" là có thể làm được phim, trong khi ở nước ngoài con số này ít nhất gấp cả chục lần.

- Người quay phim luôn là người đứng ở những vị trí "đầu sóng ngọn gió", đặc biệt trong việc quay các bộ phim chiến tranh, người quay phim thường phải ở những vị trí rất nguy hiểm. Với những phim về đề tài chiến tranh mà anh đã làm, đã có khi nào anh gặp phải những mối nguy hiểm cận kề?

+ Nói chung, việc làm phim chiến tranh ở Việt Nam vẫn còn rất thủ công và nhiều nguy hiểm, nhất là trong việc thực hiện các cảnh quay liên quan tới việc tạo hiệu ứng hình ảnh khi bắn súng, lửa cháy, bom nổ... Năm 1997, khi chấp nhận làm phim "Ngã ba Đồng Lộc" ngay tại địa danh lịch sử này đã là một nguy hiểm rồi, vì dưới lòng đất vẫn có thể còn nhiều bom mìn chưa phát nổ. Song vì các lý do lịch sử, tâm linh mà đoàn làm phim vẫn quyết định quay ngay tại đây với sự hỗ trợ tích cực của lực lượng công binh. Trong các phim như "Những người viết huyền thoại" hay phim truyền hình "Đường lên Điện Biên"... khi tạo hiện trường các cảnh bom nổ chúng tôi đều phải chôn dưới đó các vật liệu như bánh mì, xốp... để khi quả nổ tung lên sẽ đỡ ảnh hưởng tới diễn viên, người quay, song cũng nhiều khi vẫn bị đất đá văng vào mặt, vào người là chuyện bình thường. Cũng may là chưa có tai nạn nào đáng tiếc xảy ra.

- Trong số những phim anh đã làm có "Thung lũng hoang vắng" và "Tâm hồn mẹ" của nữ đạo diễn Nhuệ Giang. Làm việc với một trong số không nhiều nữ đạo diễn điện ảnh của Việt Nam, anh thấy có điều gì khác biệt so với khi làm việc với các đồng nghiệp nam không?

+ Là đạo diễn, theo tôi phẩm chất hàng đầu là sự quyết liệt. Đạo diễn Nhuệ Giang là nữ giới, nhưng chị ấy cũng là người rất quyết liệt, chị ấy đi đến tận cùng, làm đến tận cùng điều mình mong muốn, tâm huyết. Với đạo diễn Nhuệ Giang, điều đặc biệt với tôi có lẽ nằm trong các đề tài mà chị ấy đã chọn. Đó là sự chia sẻ, đồng cảm rất lớn đối với phụ nữ và trẻ em. "Thung lũng hoang vắng" là một bộ phim rất thú vị. Nhiều năm nay, cứ dịp 20-11 là Đài truyền hình các tỉnh lại chiếu lại phim này như một sự chia sẻ, cảm thông sâu sắc với các cô giáo ở vùng cao.

- Với anh, chắc hẳn trong quá trình làm "Thung lũng hoang vắng" có nhiều kỷ niệm, nhiều trải nghiệm độc đáo?

+ Bạn hãy tưởng tượng mình đang ở trong một thung lũng vào một buổi sáng sớm hay lúc chiều tà, khi sương mù tràn ngập thung lũng đó. Khi những đứa trẻ người dân tộc tan học, chúng chỉ đi khoảng 10 mét thôi, hình của chúng đã ẩn vào trong sương mù, không còn nhìn thấy nữa. Nhưng tiếng bước chân, tiếng cười đùa thì còn vẳng mãi đến cùng với tiếng suối róc rách, tiếng chim rừng, tiếng lục lạc, tiếng cối giã gạo... Âm thanh không song hành với hình ảnh ấy luôn tạo ra một sự kích thích đặc biệt khiến người nghe tò mò xem cái âm thanh ấy phát ra từ đâu, trốn ở chỗ nào. Những âm thanh ấy gợi nên sự chia sẻ, cảm thông, đồng thời nó cũng tạo nên sự cô đơn kinh khủng. Giữa biển mây, con người trở nên quá nhỏ bé, bởi cứ bước ra khỏi nhà là chìm vào mây. Theo tôi "Thung lũng hoang vắng" là một bộ phim không thể nào quên đối với những ai đã từng tham gia làm phim này.

- Xin cảm ơn NSƯT Lý Thái Dũng!

Nguyệt Hà (thực hiện)

Các tin khác

Khi yêu thương nối dài qua năm tháng...

Khi yêu thương nối dài qua năm tháng...

Từ những giai điệu thấm đẫm tình quê hương đến những câu chuyện lay động lòng người, chương trình nghệ thuật "Kết nối yêu thương" gửi đi thông điệp giản dị mà sâu sắc: Không ai nên đơn độc trước nghịch cảnh. Đằng sau mỗi người phụ nữ đau yếu, mỗi em nhỏ mang bệnh hiểm nghèo là một phận đời cần được chở che, một ước mơ cần được níu giữ. Khi những trái tim cùng rung lên nhịp đập yêu thương, nghệ thuật không chỉ chạm đến cảm xúc mà còn khơi dậy trách nhiệm cộng đồng, thắp lên hy vọng cho những cuộc đời còn nhiều gian khó.

Cuộc đối thoại tinh tế của các nền văn hóa

Cuộc đối thoại tinh tế của các nền văn hóa

Liên hoan phim (LHP) Tài liệu châu Âu – Việt Nam lần thứ 16 (diễn ra từ ngày 18 đến ngày 26/9) quy tụ 25 tác phẩm điện ảnh tài liệu đặc sắc đến từ Việt Nam và các quốc gia châu Âu. Đây không chỉ là “bữa tiệc” điện ảnh, mở ra cơ hội giao lưu, hợp tác giữa những người làm nghề mà còn là cầu nối để dòng phim đặc biệt này đến gần với công chúng hơn.

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.