NSƯT Lịch Du: Nỗi cô đơn kiêu hãnh

Qua một vài cầu nối, tôi mới có được số điện thoại nhà riêng của bà. Ba năm nay, bà sống một mình, lặng lẽ trong căn nhà trên phố Hoàng Hoa Thám...

Nhiều khán giả trẻ có thể không biết đến tên bà bởi từ lâu bà không còn đóng phim nữa. Nhưng những người yêu mến điện ảnh Việt Nam một thời vẫn nhớ tới bà - một nhan sắc dẫu không thật rực rỡ nhưng đằm thắm và có duyên ngầm. Còn bạn bè, đồng nghiệp lại nhắc tới bà như một tấm gương bền bỉ với tình yêu điện ảnh dù tình yêu ấy mang tới cho bà nhiều thua thiệt. Bà là NSƯT Lịch Du...

1. NSƯT Lịch Du là sinh viên khóa đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam (nay là Đại học Sân khấu - Điện ảnh). Cùng khóa với bà ngày ấy là những nghệ sĩ tên tuổi như NSND Trà Giang, NSND Hải Ninh, NSƯT Ngọc Lan, NSƯT Minh Đức… Yêu điện ảnh từ tấm bé nhưng con đường đến với điện ảnh của Lịch Du vô cùng chật vật.

Là con út trong gia đình có tới 7 anh chị em ở Hưng Yên, nếu thuận theo sự sắp xếp của gia đình thì hẳn sau này, Lịch Du đã là một cán bộ của Công ty Bóng đèn, phích nước Rạng Đông. Nhưng một ngày trước lúc theo đoàn lên tàu đi Bắc Kinh học, Lịch Du bỏ trốn để theo đuổi giấc mơ làm diễn viên. Không chấp nhận cho con theo nghiệp "xướng ca vô loài", cha mẹ Lịch Du nổi giận lôi đình, ngừng chu cấp tiền ăn học cho cô con gái bướng bỉnh. Trong thời gian chờ thi, Lịch Du đến nhà chị gái xin ở nhờ. Chị, vì giận quá mắng đuổi đi...

Tự ái, nửa đêm Lịch Du dắt xe đạp từ Gia Lâm vào nội thành Hà Nội. Tới cầu Long Biên, không biết đi đâu, về đâu, nhìn dòng sông Hồng cuồn cuộn chảy, Lịch Du định nhắm mắt... Nhưng cái tính bướng bỉnh và hiếu thắng đã giữ chị lại. Lịch Du vào nhà người bạn ở nhờ. Hàng ngày nhận len về đan thuê, nhận thùa khuyết đơm cúc áo cho các tiệm may để có tiền sống qua ngày.

Rồi Lịch Du đỗ vào trường Điện ảnh, nhưng là đỗ... vớt, vì hình thức không nổi bật, lại thêm cái trán dô. Trong cuộc thi ấy, một vị giám khảo là chuyên gia Liên Xô đã nhìn thấy sự thông minh trong cách diễn của Lịch Du và cương quyết bảo vệ cô trước Ban giám khảo. Điều này, đến khi vào trường Lịch Du mới biết.

Trên bước đường sự nghiệp, dường như Lịch Du luôn kém may mắn so với đồng nghiệp. Ra trường tới 2 năm Lịch Du mới được giao vai phụ. Sau đó cũng chỉ là những vai thứ. Những vai diễn của Lịch Du nhiều khi không có tên như vợ ông Ruôn trong "Bình minh trên rẻo cao" (đạo diễn: NSND Trần Đắc), vợ Hai Dong trong "Không nơi ẩn nấp" (đạo diễn: NSND Phạm Kỳ Nam), vợ Vệ trong "Vĩ tuyến 17 ngày và đêm" (đạo diễn: NSND Hải Ninh)... nhưng vai diễn nào Lịch Du cũng diễn hết mình dù không phải không có lúc chạnh lòng.

Lịch Du không để nỗi buồn kéo mình chùng xuống. Thậm chí, Lịch Du còn quan niệm là vai phụ, thời gian xuất hiện ít nên càng phải diễn ấn tượng. Mãi đến năm 1974, Lịch Du mới được giao vai chính, đó là vai người mẹ Đuông Chăn trong phim "Hai người mẹ" (đạo diễn: NSND Khắc Lợi). Đó cũng là vai chính duy nhất trong sự nghiệp diễn xuất của bà.

Bộ phim được giải thưởng của Ban Giám khảo tại Liên hoan phim Việt Nam năm 1977. Lịch Du được nhiều người khen ngợi "diễn mà như không diễn". Đạo diễn Khắc Lợi tấm tắc: "Khó mà quên được đôi mắt của người mẹ Đuông Chăn", còn cố đạo diễn Phạm Kỳ Nam xem xong phim đã nắm chặt tay Lịch Du mà rằng: "Cô diễn tuyệt quá"...

2. Những năm 90 của thế kỷ trước, điện ảnh Việt Nam bước vào giai đoạn khó khăn, cũng là lúc mọi cơ hội đóng phim với Lịch Du gần như đã khép chặt. Bà quyết định viết kịch bản. Bà tự học bằng cách mượn những kịch bản đã được dựng thành phim về nghiên cứu. Con đường viết lách với một người không được học hành bài bản như bà không hề dễ dàng, nhưng càng viết, càng thấy hứng thú.

Nếu là diễn viên, chỉ có thể hóa thân vào một nhân vật thì khi viết kịch bản, bà được diễn tất cả các vai, được sống với nhiều số phận. Những cô đơn trong đời sống riêng, những chua xót về nhân tình thế thái, những ước mơ, khát vọng chưa thành bà đều gửi gắm vào từng trang viết. Giai đoạn Lịch Du viết sung sức nhất là khoảng thời gian hơn chục năm sống ở TP HCM sau khi cùng con gái rời Hà Nội.

Trong quyết định rời xa Hà Nội ngày ấy, một phần vì sức khoẻ và sự nghiệp của con gái, nhưng một phần bà cũng muốn bình yên hơn sau những bão giông cuộc đời. Hai mẹ con sống trong căn nhà nhỏ ở quận Thủ Đức. Không đóng phim, bà viết truyện, viết tản văn, chuyển thể kịch bản để kiếm sống. Viết, với bà khi ấy vừa là để trang trải cuộc sống vừa là nơi giãi bày những tâm sự, ẩn ức trong lòng.

Những đồng nhuận bút còm cõi đã giúp hai mẹ con Lịch Du trong những năm đầu bơ vơ giữa thành phố hoa lệ này. Bà viết về những nỗi niềm đau đáu với điện ảnh, về chân dung những đồng nghiệp một thời yêu dấu của mình. Mỗi khi nhớ nghề, bà lại đạp xe qua cầu Sài Gòn sang sinh hoạt ở Câu lạc bộ Điện ảnh cùng những người bạn tóc đã muối tiêu…

Cũng chính trong những tháng ngày xa quê ấy, nỗi nhớ Hà Nội cồn cào đã thôi thúc bà xin phép nhà văn Chu Lai để chuyển thể tiểu thuyết "Phố" thành kịch bản phim truyền hình 8 tập "Người Hà Nội". Bà vẫn nhớ lần gặp nhà văn Chu Lai để xin ý kiến đóng góp cho kịch bản. Vừa gặp, nhà văn Chu Lai đã không rào trước đón sau mà thẳng băng: "Hôm nay sẽ phải khẩu chiến và khẩu chiến gay gắt đấy".

Cố làm ra vẻ bình tĩnh: "Tôi xin sẵn sàng" nhưng thực ra trong lòng Lịch Du khi ấy rất run. Trong kịch bản, Lịch Du đã không để hai nhân vật chết và một nhân vật bị điên như trong tiểu thuyết. Bà còn cho thêm 2 nhân vật nữa là Diễm và Ngân.

Sau một hồi tranh luận nảy lửa, nhà văn Chu Lai buông một câu: "Diễm và Ngân duyên dáng, đáng yêu, đó là 2 nhân vật của chị. Còn kết phim… thôi thì tùy chị". Sau này, có lần trò chuyện qua điện thoại, nhà văn Chu Lai vui vẻ: "Chị viết tiểu thuyết đi". Bà bảo, đó là cách hai người làm hòa với nhau.

Một loạt những kịch bản của bà ra đời như "Hạnh phúc từ đâu đến", "Miền sáng", "Ngày xuân ấm áp", "Mối tình người câm", "Gọi tình yêu quay về"… Coi viết lách là chốn náu mình sau những bão giông đời sống nhưng Lịch Du cũng chẳng được yên. Khi một số kịch bản bà viết hoặc chuyển thể được dựng thành phim, người ta lại xì xào rằng những tác phẩm ấy do một nhà biên kịch vì... mê bà mà viết hộ.

Chỉ những ai biết bà đã thức bao đêm để đọc, để day dứt với từng nhân vật, từng cái kết phim và tận mắt nhìn thấy từng chồng kịch bản viết tay của bà sẽ không bao giờ nghĩ và nói những điều cay nghiệt như vậy... Và những đóng góp của bà trong nghệ thuật đã được đền bù xứng đáng bằng danh hiệu NSƯT (1997).

3. Trong cuộc sống riêng tư, NSƯT Lịch Du cũng là người nếm trải nhiều đắng cay. Người con gái với ánh mắt kiêu hãnh và vầng trán cao bướng bỉnh làm bao chàng trai say đắm nhưng mỗi lần vướng vào tình yêu là một lần Lịch Du nhận về mình sự đau khổ, bẽ bàng. Ngay cả khoảnh thời gian hơn mười năm làm vợ NSND Quốc Hương thì những phút giây hạnh phúc thật sự cũng thật ngắn ngủi.

Tình yêu đến với hai người khi Lịch Du là học trò thanh nhạc của nghệ sĩ Quốc Hương. Sự ngưỡng mộ, tôn thờ của cô diễn viên với người nghệ sĩ hơn mình nhiều tuổi đang rất nổi tiếng với giọng hát say đắm lòng người qua những ca khúc như "Dưới chân núi Chita", "Tiếng hát của nàng Solveig"… đã khiến Lịch Du ngỡ đó là tình yêu sét đánh và sau đó nhận lời cầu hôn.

Gia đình Lịch Du phản đối kịch liệt vì chàng rể quá chênh lệch về tuổi tác, về tính cách nhưng họ quyết tâm đến với nhau. Không đăng ký kết hôn, không cưới hỏi, chỉ là một bàn tiệc tại khách sạn Phú Gia với sự chứng kiến của đại diện hai đơn vị. Lịch Du trở thành vợ sau đám cưới không hoa, không quà, và đạp xe theo chồng về gian nhà bé tẹo trong khu tập thể ở Cầu Giấy. Cô con gái Dạ Hương là kết quả của cuộc hôn nhân ấy.

Năm 1975, Sài Gòn giải phóng, nghệ sĩ Quốc Hương theo đoàn văn công vào tiếp quản Sài Gòn, nguyện sống chết trên sân khấu miền Nam . Lịch Du cũng không thể xa Hà Nội, xa rời tình yêu điện ảnh. Ba năm sau đó, họ chính thức chia tay nhau. Ngẫm lại cuộc hôn nhân ấy, NSƯT Lịch Du bảo: "Tôi và anh Quốc Hương đến với nhau vì tiếng hát và xa nhau cũng vì tiếng hát. Những năm tháng sống cùng anh Quốc Hương, tôi ảnh hưởng từ anh niềm đam mê với nghệ thuật. Nhưng đó cũng chính là con dao hai lưỡi để chúng tôi rời xa nhau".

Sau này, nghệ sĩ Lịch Du thêm 2 lần kết hôn nữa nhưng rồi vẫn là kết cục buồn. Tính bà quyết liệt, yêu ai là yêu hết lòng, đắm đuối tới mức mù quáng để rồi cuối cùng đau xót nhận ra sự thật không như mình nghĩ. Nhiều khi bà cũng không hiểu nổi tại sao số phận cay nghiệt với bà đến thế. Điểm tựa tinh thần giúp NSƯT Lịch Du vượt qua tất cả những giông gió của số phận chính là cô con gái nhỏ Dạ Hương.

Thế nhưng, giờ đây, cô con gái bé nhỏ ấy cũng đang ở xa tầm tay của bà. Từ khi con gái sang Đức, bà quyết định trở lại Hà Nội. Bước vào tuổi thất thập, trong khi nhiều bạn bè vui cảnh sum vầy cùng con cháu, NSƯT Lịch Du vẫn một mình một bóng trong căn nhà 3 tầng rộng thênh thang, tự mình chăm sóc mình.  Nhưng bà vẫn nói “Tôi yêu những gì tôi có ngày hôm nay”.

Tạm biệt bà, tôi cứ miên man nghĩ, NSƯT Lịch Du như cây xương rồng không được ai chăm sóc nhưng vẫn sống và nở hoa. Những bông hoa kết tinh bằng những giọt đắng đời

Thảo Duyên

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".