Những dòng lịch sử chiến tranh: Xung đột xã hội nửa đầu thế kỷ XIX

Xung đột giữa nhà nước và dân chúng ở Việt Nam không phải là chuyện hiếm. Nguyên nhân thì có nhiều, quy mô cũng đa dạng và hệ quả đa chiều.

Ở đây xin trình bày một số khía cạnh về chiến tranh và bạo lực xã hội nửa đầu thế kỷ XIX, thông qua các phong trào của dân chúng chống lại triều Nguyễn trên vùng lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, bao gồm các cuộc nổi dậy của làng xã trên vùng châu thổ và các nhóm dân tộc thiểu số thượng du Bắc Kỳ trải dài từ biên giới Việt-Trung tới hành lang phía Tây thuộc Hưng Hóa và vùng trung du phía Tây Ninh Bình.

Từ trước tới nay, chúng ta vẫn coi nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do sưu cao thuế nặng như là một hệ quả của thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến thối nát. 

Bài viết này cung cấp thêm các khía cạnh khác của bạo lực xã hội và chiến tranh giữa dân chúng với nhà nước để độc giả cùng suy ngẫm, bao gồm tính không chính thống của chính quyền nhà Nguyễn, sự bất mãn của dân chúng Bắc Hà và sự mở rộng tập quyền hóa của vua Minh Mạng.

Năm 1802, một đạo quân có căn cứ ở Gia Định, cách Thăng Long gần 2.000km, tiến ra Bắc và giành quyền kiểm soát vùng đất này từ tay một vương triều khác cũng tới từ phía Nam (nhà Tây Sơn). Đối với những người Bắc Hà, người lãnh đạo của đạo quân này tới từ một xứ xa lạ, cùng lắm là một phiên thần phụng sự dòng dõi cai trị chính thống của họ: nhà Lê.

Nhà Nguyễn, vì thế, là một vương triều đặc thù trong mối tương tác với dân chúng trên vùng lãnh thổ thống nhất mà họ cai trị. Có mấy điểm cần chú ý trong mối tương quan đặc biệt này, sẽ ảnh hưởng lâu dài đến số mệnh lịch sử Việt Nam.

Căn cứ Trà Lũ của Phan Bá Vành [Nguồn: Nguyễn Phan Quang (1979), Masaya Shiraishi (1984)].
Căn cứ Trà Lũ của Phan Bá Vành [Nguồn: Nguyễn Phan Quang (1979), Masaya Shiraishi (1984)].

Thứ nhất, vương triều này lên cầm quyền từ địa vị một lãnh chúa địa phương.

Thứ hai, vương triều này lên cầm quyền sau thời gian dài chia cắt đất nước, lãnh thổ được mở rộng với nhiều không gian chính trị Việt, xã hội Việt và văn hóa Việt khác nhau.

Thứ ba, vương triều này lên cầm quyền sau nhiều thập niên chiến tranh làm kiệt quệ nền kinh tế, dân lưu tán và bạo lực xã hội gia tăng.

Ba điều này dẫn đến một đặc trưng rất quan trọng trong kỹ thuật cai trị của Huế: hoài nghi, sợ dân chúng và bị ám ảnh bởi nổi loạn, đặc biệt là từ vùng Bắc Kỳ. 

Chính vì điều này, sứ mệnh của Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long) năm 1802 không chỉ bảo đảm cho một Việt Nam thống nhất được định hình bằng lưỡi gươm mà còn là tìm kiếm các bản sắc mới, hình dung không gian, bản đồ địa lý và cố kết các bản sắc vùng miền thành một không gian Việt Nam mới sau nhiều thế kỷ phân tán.

Gia Long hiểu điều này. Cuộc hành trình năm 1802 của ông ra Bắc là một diễu hành chính trị được thiết kế chu đáo. Ông tập hợp các Nho sĩ để tham vấn về cách xưng hô với nhà Lê và dân chúng, phủ dụ các vùng đất đi qua, lập luận rằng nhà Lê đã mất, ông lấy nước từ tay nhà Tây Sơn vô đạo, gặp gỡ các dòng họ lớn, tập hợp con cháu nhà Lê, nhà Trịnh, yên ủi các Nho sĩ Bắc Hà để trấn an và tuyển dụng...

Cuối cùng, ông lập ra chính quyền địa phương ở Bắc Thành, cử viên tướng uyên bác nhất về chính trị của mình là Nguyễn Văn Thành trấn giữ. Nguyễn Văn Thành sau đó dựa chặt chẽ vào mạng lưới các trí thức Bắc Hà để cai trị hệ thống chính quyền mới như Nguyễn Gia Cát, Đặng Trần Thường, Phạm Thích, Trần Hựu... 

Mặt khác, nhà nước cũng tổ chức hệ thống quân sự lấy các thổ hào, thổ binh địa phương làm chỗ dựa, bên cạnh việc tuyển lính Nam (từ Quảng Bình vào Nam) để đóng giữ từ Hà Tĩnh ra Bắc.

Tuy nhiên, người Bắc Hà thì không quên lời hứa của ông.

“Dân Bắc Hà mong đợi từ lâu vua Nam Hà (Nguyễn Phúc Ánh) xuất quân tới giải phóng họ khỏi ách chính quyền giặc. Bây giờ, chừng như họ không thích vua nữa, vì họ đã tưởng rằng chúa sẽ đặt một hoàng tử họ Lê lên ngôi... Trước, vua đã hứa như vậy. Mà chính vì sự triển vọng ấy mà nhiều người Bắc Hà đã theo chúa, kẻ thì từ ba bốn năm, kẻ thì mới theo... Sự ấy làm mất lòng nhiều người Bắc Hà và làm ta sợ sau đây sẽ có phiến loạn...” (Thư của giáo sĩ Langlois viết ngày 3-9-1802, Hoàng Xuân Hãn dịch).

Đúng như dự báo, dân chúng đã nổi loạn.

Điều chưa có tiền lệ là các cuộc nổi dậy này bùng phát ngay sau khi triều đại mới được hình thành. Phần lớn chúng diễn ra trên vùng châu thổ và được sử triều đình chép là tặc hay phỉ, tuy nhiên phần phụ chú của các đoạn chép này cho thấy nhiều người từng là quan chức nhà Lê và thổ hào địa phương.

Từ năm 1802 đến 1826, hai nhân vật được phái đi đánh dẹp ở Bắc Hà nhiều nhất là Lê Chất và Lê Văn Duyệt. Tại Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình vào 1808, 1819, 1824, hai viên tướng này tìm cách thu nạp hàng nghìn người nổi dậy, biến họ thành các đội Thanh Thuận, Bắc Thuận, An Thuận, Hồi Lương, An Bắc... để đưa vào quân đội của mình.

Tuy nhiên, kết quả là cuộc nổi dậy sẽ vẫn tiếp tục tại Thanh Hóa và Ninh Bình vào các năm 1826, 1827, 1828, 1833, 1835, 1836, xoay quanh nhiều gương mặt xưng là dòng dõi nhà Lê (Lê Duy Nhiên, Lê Duy Lương, Lê Duy Khương, Lê Duy Dưỡng, Lê Duy Hiển) liên minh với các nhóm miền núi ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Hóa, Sơn Tây. Một người khác là Lê Duy Độ thì nổi dậy ở Hải Dương vào năm 1833.

Các cuộc nổi dậy mang âm hưởng nhà Lê này là một nỗi ám ảnh lớn đối với các vua triều Nguyễn và sẽ còn tiếp tục nhiều thập kỷ sau đó, tới tận những năm 1860, khi Tạ Văn Phụng tự xưng là Lê Duy Minh, gây ra nhiều năm chiến tranh dọc theo duyên hải Bắc Kỳ.

Xung đột giữa nhà nước và làng xã là rõ ràng, vượt lên trên các vấn đề kinh tế hay thuế khóa. “Phép vua thua lệ làng” chính là vấn đề pháp luật và quyền lực điều hành xã hội. Đó là một xã hội của các xung đột văn hóa giữa hệ thống thiết chế giáo hóa chặt chẽ từ trên xuống và sự tính tự trị làng xã:

“Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan”.

Vì thế, bất cứ nguy cơ kinh tế, xã hội nào cũng sẵn sàng tạo ra chiến tranh và bạo lực. Tại vùng trung tâm của châu thổ sông Hồng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định là các khu vực dân đông, dễ ngập lụt. Sau các đợt vỡ đê và mất mùa liên tiếp từ 1824 đến 1826, dân lưu tán đổ dồn xuống vùng Đông Nam châu thổ, trong đó có duyên hải Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, nơi hình thành cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành.

Có lúc đông đến 5.000 người cùng hàng trăm ghe thuyền, đây là cuộc nổi dậy lớn nhất của các cư dân châu thổ giữa các năm 1802 và 1860. Minh Mạng đã phải dốc toàn lực cho cuộc đàn áp này và sau đó cùng với Nguyễn Công Trứ, buộc phải tiến hành các thử nghiệm kinh tế-xã hội, di dân, khai hoang, xác lập lưu dân nhằm xoa dịu và ổn định tình hình.

Mối quan hệ căng thẳng giữa quan lại và dân chúng chính là nguyên nhân thường trực của xung đột xã hội. Mùa hè năm 1834, Bố chính Bắc Ninh (tương đương giám đốc sở tài chính) Nguyễn Khắc Hài, đi khám đê Đông Ngàn thì bỗng gặp bọn giặc xông đến chặn đánh. Những người theo hầu hoặc chết, hoặc bị thương. Hài lùi vào làng Đông Xá. Người làng ấy đóng cổng làng không cho vào nên Hài bị giặc giết chết (Đại Nam Thực Lục).

Việc một viên quan chánh tam phẩm của triều đình bị giặc cướp truy giết, dân làng không những không cứu giúp mà còn đóng cửa làm ngơ cho thấy phần nào bức tranh quan hệ giữa nhà nước và làng xã trong một thế giới đầy những biến động mà mâu thuẫn này. Minh Mạng vừa ngạc nhiên, vừa tức giận. 

Sau sự kiện này, 20 người, trong đó có những người giữ cổng làng đã bị giết, tuy nhiên đó chắc chắn chưa phải là lần cuối cùng các làng xã thách thức quyền lực của nhà nước ở Huế.

Một góc khác của xung đột và chiến tranh đến từ chính sách tập quyền hóa của triều Nguyễn. Minh Mạng có tham vọng thiết lập hệ thống chính quyền thống nhất và lãnh thổ kiểm soát trực tiếp từ Huế. Ông xóa bỏ sự phân tán và không thống nhất của bộ máy hành chính Gia Long, thay bằng thể chế các tỉnh.

Vào năm 1832, cả nước có 31 tỉnh. Ông thay thế chế độ tù trưởng thế tập bằng quan lại từ miền xuôi cử lên. Tiến hành đo đạc ruộng đất, thống kê nhân khẩu, xác lập lại thuế khóa. Điều này mở đầu cho một loạt cuộc nổi dậy khác từ vùng thiểu số phía Bắc, tiêu biểu là Nông Văn Vân (1833-1835).

Tập hợp tới 5-7 ngàn người, bao gồm cả phu mỏ người Hoa, người dân tộc thiểu số và người Việt, quân nổi dậy tấn công xuống vùng đồng bằng, bao vây Thái Nguyên và liên lạc với các nhóm thiểu số khác dọc theo phía Tây châu thổ, khiến nhà Nguyễn vất vả 3 năm mới dập tắt được. Tiếp sau Nông Văn Vân còn nhiều nhóm khác chống lại các nỗ lực của Huế nhằm bảo tồn quyền lực tự trị và địa phương của mình.

Những câu chuyện này không có mong muốn gì hơn là làm đa dạng cách hiểu của chúng ta về bức tranh xung đột và chiến tranh của người Việt Nam trong quá khứ. 

Ông cha đã không chỉ chiến đấu với bên ngoài để bảo tồn giá trị Việt Nam mà còn là cuộc đấu tranh vật lộn giữa các xu thế chính trị, quyền lực, xung đột xã hội và sắc tộc để tìm kiếm không gian, bản sắc và sự định hình của nước Việt Nam. Các cuộc xung đột này cho thấy gian nan của người Việt trong việc xác lập nên hình hài của nước Việt Nam hiện đại.

Qua quá trình đầy mất mát này mà nước Việt Nam hiện đại đã ra đời. Dù đó là góc nhìn của nhà nước từ trên xuống, hay góc nhìn tự trị của những người dân làng Đông Xá, hay Nông Văn Vân, tất cả đã trở thành một phần của quá khứ hào hùng, bi tráng của nước Việt Nam. Vị trí và tiếng nói của họ trong lịch sử vì thế cần phải được lắng nghe và trân trọng.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.