Những dòng lịch sử chiến tranh: Xung đột xã hội nửa đầu thế kỷ XIX

Xung đột giữa nhà nước và dân chúng ở Việt Nam không phải là chuyện hiếm. Nguyên nhân thì có nhiều, quy mô cũng đa dạng và hệ quả đa chiều.

Ở đây xin trình bày một số khía cạnh về chiến tranh và bạo lực xã hội nửa đầu thế kỷ XIX, thông qua các phong trào của dân chúng chống lại triều Nguyễn trên vùng lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, bao gồm các cuộc nổi dậy của làng xã trên vùng châu thổ và các nhóm dân tộc thiểu số thượng du Bắc Kỳ trải dài từ biên giới Việt-Trung tới hành lang phía Tây thuộc Hưng Hóa và vùng trung du phía Tây Ninh Bình.

Từ trước tới nay, chúng ta vẫn coi nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là do sưu cao thuế nặng như là một hệ quả của thời kỳ suy tàn của chế độ phong kiến thối nát. 

Bài viết này cung cấp thêm các khía cạnh khác của bạo lực xã hội và chiến tranh giữa dân chúng với nhà nước để độc giả cùng suy ngẫm, bao gồm tính không chính thống của chính quyền nhà Nguyễn, sự bất mãn của dân chúng Bắc Hà và sự mở rộng tập quyền hóa của vua Minh Mạng.

Năm 1802, một đạo quân có căn cứ ở Gia Định, cách Thăng Long gần 2.000km, tiến ra Bắc và giành quyền kiểm soát vùng đất này từ tay một vương triều khác cũng tới từ phía Nam (nhà Tây Sơn). Đối với những người Bắc Hà, người lãnh đạo của đạo quân này tới từ một xứ xa lạ, cùng lắm là một phiên thần phụng sự dòng dõi cai trị chính thống của họ: nhà Lê.

Nhà Nguyễn, vì thế, là một vương triều đặc thù trong mối tương tác với dân chúng trên vùng lãnh thổ thống nhất mà họ cai trị. Có mấy điểm cần chú ý trong mối tương quan đặc biệt này, sẽ ảnh hưởng lâu dài đến số mệnh lịch sử Việt Nam.

Căn cứ Trà Lũ của Phan Bá Vành [Nguồn: Nguyễn Phan Quang (1979), Masaya Shiraishi (1984)].
Căn cứ Trà Lũ của Phan Bá Vành [Nguồn: Nguyễn Phan Quang (1979), Masaya Shiraishi (1984)].

Thứ nhất, vương triều này lên cầm quyền từ địa vị một lãnh chúa địa phương.

Thứ hai, vương triều này lên cầm quyền sau thời gian dài chia cắt đất nước, lãnh thổ được mở rộng với nhiều không gian chính trị Việt, xã hội Việt và văn hóa Việt khác nhau.

Thứ ba, vương triều này lên cầm quyền sau nhiều thập niên chiến tranh làm kiệt quệ nền kinh tế, dân lưu tán và bạo lực xã hội gia tăng.

Ba điều này dẫn đến một đặc trưng rất quan trọng trong kỹ thuật cai trị của Huế: hoài nghi, sợ dân chúng và bị ám ảnh bởi nổi loạn, đặc biệt là từ vùng Bắc Kỳ. 

Chính vì điều này, sứ mệnh của Nguyễn Phúc Ánh (vua Gia Long) năm 1802 không chỉ bảo đảm cho một Việt Nam thống nhất được định hình bằng lưỡi gươm mà còn là tìm kiếm các bản sắc mới, hình dung không gian, bản đồ địa lý và cố kết các bản sắc vùng miền thành một không gian Việt Nam mới sau nhiều thế kỷ phân tán.

Gia Long hiểu điều này. Cuộc hành trình năm 1802 của ông ra Bắc là một diễu hành chính trị được thiết kế chu đáo. Ông tập hợp các Nho sĩ để tham vấn về cách xưng hô với nhà Lê và dân chúng, phủ dụ các vùng đất đi qua, lập luận rằng nhà Lê đã mất, ông lấy nước từ tay nhà Tây Sơn vô đạo, gặp gỡ các dòng họ lớn, tập hợp con cháu nhà Lê, nhà Trịnh, yên ủi các Nho sĩ Bắc Hà để trấn an và tuyển dụng...

Cuối cùng, ông lập ra chính quyền địa phương ở Bắc Thành, cử viên tướng uyên bác nhất về chính trị của mình là Nguyễn Văn Thành trấn giữ. Nguyễn Văn Thành sau đó dựa chặt chẽ vào mạng lưới các trí thức Bắc Hà để cai trị hệ thống chính quyền mới như Nguyễn Gia Cát, Đặng Trần Thường, Phạm Thích, Trần Hựu... 

Mặt khác, nhà nước cũng tổ chức hệ thống quân sự lấy các thổ hào, thổ binh địa phương làm chỗ dựa, bên cạnh việc tuyển lính Nam (từ Quảng Bình vào Nam) để đóng giữ từ Hà Tĩnh ra Bắc.

Tuy nhiên, người Bắc Hà thì không quên lời hứa của ông.

“Dân Bắc Hà mong đợi từ lâu vua Nam Hà (Nguyễn Phúc Ánh) xuất quân tới giải phóng họ khỏi ách chính quyền giặc. Bây giờ, chừng như họ không thích vua nữa, vì họ đã tưởng rằng chúa sẽ đặt một hoàng tử họ Lê lên ngôi... Trước, vua đã hứa như vậy. Mà chính vì sự triển vọng ấy mà nhiều người Bắc Hà đã theo chúa, kẻ thì từ ba bốn năm, kẻ thì mới theo... Sự ấy làm mất lòng nhiều người Bắc Hà và làm ta sợ sau đây sẽ có phiến loạn...” (Thư của giáo sĩ Langlois viết ngày 3-9-1802, Hoàng Xuân Hãn dịch).

Đúng như dự báo, dân chúng đã nổi loạn.

Điều chưa có tiền lệ là các cuộc nổi dậy này bùng phát ngay sau khi triều đại mới được hình thành. Phần lớn chúng diễn ra trên vùng châu thổ và được sử triều đình chép là tặc hay phỉ, tuy nhiên phần phụ chú của các đoạn chép này cho thấy nhiều người từng là quan chức nhà Lê và thổ hào địa phương.

Từ năm 1802 đến 1826, hai nhân vật được phái đi đánh dẹp ở Bắc Hà nhiều nhất là Lê Chất và Lê Văn Duyệt. Tại Nghệ An, Thanh Hóa, Ninh Bình vào 1808, 1819, 1824, hai viên tướng này tìm cách thu nạp hàng nghìn người nổi dậy, biến họ thành các đội Thanh Thuận, Bắc Thuận, An Thuận, Hồi Lương, An Bắc... để đưa vào quân đội của mình.

Tuy nhiên, kết quả là cuộc nổi dậy sẽ vẫn tiếp tục tại Thanh Hóa và Ninh Bình vào các năm 1826, 1827, 1828, 1833, 1835, 1836, xoay quanh nhiều gương mặt xưng là dòng dõi nhà Lê (Lê Duy Nhiên, Lê Duy Lương, Lê Duy Khương, Lê Duy Dưỡng, Lê Duy Hiển) liên minh với các nhóm miền núi ở Thanh Hóa, Ninh Bình, Hưng Hóa, Sơn Tây. Một người khác là Lê Duy Độ thì nổi dậy ở Hải Dương vào năm 1833.

Các cuộc nổi dậy mang âm hưởng nhà Lê này là một nỗi ám ảnh lớn đối với các vua triều Nguyễn và sẽ còn tiếp tục nhiều thập kỷ sau đó, tới tận những năm 1860, khi Tạ Văn Phụng tự xưng là Lê Duy Minh, gây ra nhiều năm chiến tranh dọc theo duyên hải Bắc Kỳ.

Xung đột giữa nhà nước và làng xã là rõ ràng, vượt lên trên các vấn đề kinh tế hay thuế khóa. “Phép vua thua lệ làng” chính là vấn đề pháp luật và quyền lực điều hành xã hội. Đó là một xã hội của các xung đột văn hóa giữa hệ thống thiết chế giáo hóa chặt chẽ từ trên xuống và sự tính tự trị làng xã:

“Tháng tám có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy người ta hãi hùng
Không đi thì chợ không đông
Đi thì phải lột quần chồng sao đang!
Có quần ra quán bán hàng
Không quần ra đứng đầu làng trông quan”.

Vì thế, bất cứ nguy cơ kinh tế, xã hội nào cũng sẵn sàng tạo ra chiến tranh và bạo lực. Tại vùng trung tâm của châu thổ sông Hồng, Hải Dương, Thái Bình, Nam Định là các khu vực dân đông, dễ ngập lụt. Sau các đợt vỡ đê và mất mùa liên tiếp từ 1824 đến 1826, dân lưu tán đổ dồn xuống vùng Đông Nam châu thổ, trong đó có duyên hải Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, nơi hình thành cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành.

Có lúc đông đến 5.000 người cùng hàng trăm ghe thuyền, đây là cuộc nổi dậy lớn nhất của các cư dân châu thổ giữa các năm 1802 và 1860. Minh Mạng đã phải dốc toàn lực cho cuộc đàn áp này và sau đó cùng với Nguyễn Công Trứ, buộc phải tiến hành các thử nghiệm kinh tế-xã hội, di dân, khai hoang, xác lập lưu dân nhằm xoa dịu và ổn định tình hình.

Mối quan hệ căng thẳng giữa quan lại và dân chúng chính là nguyên nhân thường trực của xung đột xã hội. Mùa hè năm 1834, Bố chính Bắc Ninh (tương đương giám đốc sở tài chính) Nguyễn Khắc Hài, đi khám đê Đông Ngàn thì bỗng gặp bọn giặc xông đến chặn đánh. Những người theo hầu hoặc chết, hoặc bị thương. Hài lùi vào làng Đông Xá. Người làng ấy đóng cổng làng không cho vào nên Hài bị giặc giết chết (Đại Nam Thực Lục).

Việc một viên quan chánh tam phẩm của triều đình bị giặc cướp truy giết, dân làng không những không cứu giúp mà còn đóng cửa làm ngơ cho thấy phần nào bức tranh quan hệ giữa nhà nước và làng xã trong một thế giới đầy những biến động mà mâu thuẫn này. Minh Mạng vừa ngạc nhiên, vừa tức giận. 

Sau sự kiện này, 20 người, trong đó có những người giữ cổng làng đã bị giết, tuy nhiên đó chắc chắn chưa phải là lần cuối cùng các làng xã thách thức quyền lực của nhà nước ở Huế.

Một góc khác của xung đột và chiến tranh đến từ chính sách tập quyền hóa của triều Nguyễn. Minh Mạng có tham vọng thiết lập hệ thống chính quyền thống nhất và lãnh thổ kiểm soát trực tiếp từ Huế. Ông xóa bỏ sự phân tán và không thống nhất của bộ máy hành chính Gia Long, thay bằng thể chế các tỉnh.

Vào năm 1832, cả nước có 31 tỉnh. Ông thay thế chế độ tù trưởng thế tập bằng quan lại từ miền xuôi cử lên. Tiến hành đo đạc ruộng đất, thống kê nhân khẩu, xác lập lại thuế khóa. Điều này mở đầu cho một loạt cuộc nổi dậy khác từ vùng thiểu số phía Bắc, tiêu biểu là Nông Văn Vân (1833-1835).

Tập hợp tới 5-7 ngàn người, bao gồm cả phu mỏ người Hoa, người dân tộc thiểu số và người Việt, quân nổi dậy tấn công xuống vùng đồng bằng, bao vây Thái Nguyên và liên lạc với các nhóm thiểu số khác dọc theo phía Tây châu thổ, khiến nhà Nguyễn vất vả 3 năm mới dập tắt được. Tiếp sau Nông Văn Vân còn nhiều nhóm khác chống lại các nỗ lực của Huế nhằm bảo tồn quyền lực tự trị và địa phương của mình.

Những câu chuyện này không có mong muốn gì hơn là làm đa dạng cách hiểu của chúng ta về bức tranh xung đột và chiến tranh của người Việt Nam trong quá khứ. 

Ông cha đã không chỉ chiến đấu với bên ngoài để bảo tồn giá trị Việt Nam mà còn là cuộc đấu tranh vật lộn giữa các xu thế chính trị, quyền lực, xung đột xã hội và sắc tộc để tìm kiếm không gian, bản sắc và sự định hình của nước Việt Nam. Các cuộc xung đột này cho thấy gian nan của người Việt trong việc xác lập nên hình hài của nước Việt Nam hiện đại.

Qua quá trình đầy mất mát này mà nước Việt Nam hiện đại đã ra đời. Dù đó là góc nhìn của nhà nước từ trên xuống, hay góc nhìn tự trị của những người dân làng Đông Xá, hay Nông Văn Vân, tất cả đã trở thành một phần của quá khứ hào hùng, bi tráng của nước Việt Nam. Vị trí và tiếng nói của họ trong lịch sử vì thế cần phải được lắng nghe và trân trọng.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?