Nhớ Phạm Tiến Duật

Thời gian trôi nhanh quá. Đã 9 năm kể từ ngày anh mất, kể từ cái khoảnh khắc tôi thấy mình có lỗi vì cho đến lúc ấy vẫn chưa kịp viết một bài nào, thậm chí một dòng nào về cuộc đời thi ca huyền thoại của anh.

Tôi và anh có một tình bạn có thể gọi là tri âm tri kỷ, và chính anh đã có lần bảo tôi rằng: Anh và em là một cặp đôi rất đẹp khi nói chuyện thơ. 

Khi ngồi viết những dòng này, tôi thấy nhớ quá cái lần ngồi nói chuyện với anh, không phải trong một quán cà phê sang trọng, mà trong một hàng nước gày còm, khi nói về thơ anh, anh đã cười buồn và bảo: Anh là người của muôn năm cũ mất rồi.

Thật là buồn khi một huyền thoại thơ của một thời khói lửa oanh liệt đã nói như vậy. Tôi nhớ ánh mắt như có ngấn nước của anh lúc đó và chúng tôi đành lảng chuyện bằng cách nhìn những cái lá sấu vàng lăn theo gió trên con phố nhỏ. Nỗi buồn ấy anh cũng đã nói trong thơ:

Và những ngày này ai còn nói về si mê
Âm  nhạc với văn chương thành makétting tuốt luốt
Tình yêu hả? Tình yêu thì cũng tốt
Có nhạc vàng khách khứa đến đông hơn

Tôi vẫn nhớ nguyên vẹn cảm xúc của mình khi còn là một cô học trò nhỏ bé gầy gò, trong một đêm đông Hà Nội thời chiến tranh đã đứng lặng dưới cái loa đầu phố, để nghe bài hát Trường Sơn Đông, Trường Sơn Tây phổ thơ Phạm Tiến Duật.

Tôi vẫn nhớ mình đã cùng với rất nhiều thính giả khác  đứng im lặng dưới cái loa công cộng để nghe một cách say đắm bài hát tình yêu đầy lãng mạn quyện trong bom đạn và khói lửa ấy. Và chừng ấy đủ cho trái tim non nớt của tôi  hiểu rằng tình yêu là gì.

Bài thơ ấy và những bài thơ tình khác của Phạm Tiến Duật đã dạy tôi rằng: Tình yêu là một sự hy sinh. Sau này lớn lên, do số phận cuộc đời, tôi đi nhiều miền đất trên thế giới, nghe nhiều bài hát, nhiều bản nhạc tình yêu nổi tiếng, nhưng lạ thay không bao giờ tôi quên cảm xúc trái tim lặng đi khi nghe bài hát ấy:

Cùng mắc võng trên rừng Trường Sơn
Hai đứa ở hai đầu xa thẳm
Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây.

Tôi dám quả quyết rằng ngày hôm nay trong âm nhạc hiện đại Việt Nam có ít những bài thơ - những bài hát tình yêu đẹp và trong sáng đến thế. Có cả một thế hệ những người anh, người chị, những người bạn của tôi, những chị Trâm, anh Thạc đi vào chiến trường và chính họ cũng biết là mình có thể ngã xuống trên những nẻo đường chiến tranh, vậy mà họ vẫn ra đi với tâm thế "Đường ra trận mùa này đẹp lắm".

Trong cuộc đời một con người có lẽ ai cũng phải chịu ơn những trang sách, những câu thơ, và tuổi trẻ của tôi đã chịu ơn những bài thơ Phạm Tiến Duật. Anh đã dạy tôi về tình yêu Tổ quốc, tình yêu con người bằng những vần thơ giản dị và trong sáng y như con người anh vậy. Những bài thơ ấy được viết tại chiến trường, nơi không tồn tại sự dối trá, bởi con người không thể dối trá trước cái chết.

Gần bốn mươi năm trước Phạm Tiến Duật đã viết về nỗi đau và sự mất mát trong chiến tranh của những người phụ nữ. Đọc những câu thơ này của Phạm Tiến Duật lại thấy thương cho những người con gái ở trong vùng rừng chiến tranh, lại nhớ cuốn Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm với bao xót xa khi chị viết thèm được vuốt mái tóc một người con trai mà mình thương mến.

Nỗi đau của những cô gái trên những nẻo đường chiến tranh đã được Phạm Tiến Duật kể lại bằng những câu thơ âm thầm mà cái đau cứ lặng lẽ xuyên suốt vào trái tim chúng ta và nằm lại ở đó:

Thôi em đừng bẻ đốt ngón tay
Nước mắt dễ lây mà rừng thì lặng quá
Anh biết rồi bao nhiêu vất vả
Tháng năm dài cùng nhau đi qua

Đã sáu bảy năm em gái xa nhà
Ba lăm tuổi chuyện chồng con chưa nói
Cả một thời thanh xuân sôi nổi
Ở bên nhau bếp lửa giữa rừng xa.

Có lẽ Phạm Tiến Duật là một trong những nhà thơ đầu tiên nói về nỗi đau, sự mất mát của chiến tranh, cái giá phải trả của nó, vì anh hiểu nó và cảm xúc với nó bằng trái tim một người trong cuộc.

Đọc lại những bài thơ viết trong chiến tranh chống Mỹ của Phạm Tiến Duật chúng ta thấy nhà thơ làm thơ để trả ơn nhân dân, trả ơn dân tộc, trả ơn những người lính, những cô thanh niên xung phong đang chiến đấu ở chiến trường để giành sự sống cho anh, giành độc lập tự do cho dân tộc. Và với sự nghiệp thi ca của mình, anh đã làm trọn vẹn điều đó. Chỉ riêng điều đó thôi đã quá xứng đáng và trọn vẹn đối với cuộc đời của một nhà thơ lớn.

Với Phạm Tiến Duật, một nhà thơ mà số phận đã may mắn cho tôi được gần gũi như một người anh, một người bạn, chứ không phải chỉ qua những trang thơ, có một kỷ niệm mà tôi đành viết ra, mong hương hồn anh thứ lỗi: Đó là sinh thời Phạm Tiến Duật rất nghèo, dù không khi nào anh nói tới điều ấy cả. Nghèo mà lại giàu lòng tự trọng - cái phẩm cách của một ông đồ nho như anh đã viết trong bài thơ cuối của mình:

Nhớ ông đồ thì ít nhớ câu đối thì nhiều
Cái bút lông bay trên giấy hồng điều

(Ấy là cái đích gần treo lên phía trước
Mỗi một lần nhìn một lần nguyện ước)

Vào những năm đầu 90 của thế kỷ trước, khi tôi và Phạm Tiến Duật cùng làm cộng tác viên cho câu lạc bộ thơ của một cung văn hoá ở Hà Nội, cô phụ trách chương trình ấy đã kể với tôi rằng, Phạm Tiến Duật đã vay cô ít tiền và đề nghị sẽ trừ dần vào thù lao của những buổi nói chuyện thơ.

Ảnh trong bài: Nguyễn Đình Toán.
Ảnh trong bài: Nguyễn Đình Toán.

Mà vào những năm tháng ấy, thù lao của những buổi nói chuyện thơ ít đến nỗi giống như là làm từ thiện, chỉ đủ để chúng tôi mời nhau bát cháo sau khi lao động. Tôi thật sự cũng không biết là phải hết mấy năm anh mới trả nổi món nợ ấy. Tôi kể lại kỷ niệm này mà nước mắt rơi xuống những trang giấy. Và tôi nhớ, Phạm Tiến Duật cũng từng viết những câu thơ đắng lòng về nước mắt:

Nửa phần đất giặc phải ngừng ném bom

Nhớ câu nói của mẹ, câu nói như chắt từ nước mắt

- Thà ăn muối suốt đời

- Còn hơn là có giặc!

Phạm Tiến Duật cũng chú thích rằng: “Bài thơ có đến hai thứ muối: thứ muối mà bà mẹ nói tới và thứ muối mặn chứa trong nước mắt. Nếu nước mắt người không có muối thì làm sao chắt ra? Nếu nước mắt người không có muối thì làm sao mặn, làm sao xót chính ta đến vậy?”. Những lời này đã thể hiện điển hình chiều sâu trong suy nghĩ và trong thi ca của nhà thơ Phạm Tiến Duật.

Khi nhớ về anh và viết về anh, không hiểu sao tôi lại nhớ đến cảm xúc khi viết về nhà thơ Nguyễn Bính trước đây. Lúc đó tôi có viết rằng có những sự ra đi của một số nhà thơ làm chúng ta nghĩ đến như trong một gia đình có nhiều đứa con.

Có đứa thì trời cho ăn nên làm ra, ra khỏi quê hương lập nghiệp, đi tới những miền đất xa lạ và khi trở về thì xênh sang áo mũ trong sự yêu quý, kính trọng; lại có những người con ở lại với quê  hương, chỉ biết âm thầm hi sinh cho quê hương, phụng thờ tiên tổ, và những đứa con ấy mọi người vẫn xem sự có mặt của họ là hết sức tự nhiên, chỉ đến khi họ ra đi thì chúng ta mới hiểu hết sự hy sinh của họ và thấy thiếu vắng họ.

Phải chăng số phận nhà thơ Phạm Tiến Duật cũng là như vậy? Và những câu thơ nổi tiếng của Ôna Becgôn lại trở về trong tâm trí tôi, vì dường như nó cũng đúng với cuộc đời Phạm Tiến Duật:

Và nếu những câu hát ấy được đặt ra
Để nói về con người anh, sự nghiệp anh
Chắc anh sẽ nói: không giống đâu
Tôi giản dị hơn và cũng đau đớn hơn nhiều.

(*) Tiến sĩ khoa học ngữ văn, khoa Báo chí, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội.

Đoàn Hương

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?