Nhớ mãi người bạn ấy

Có thể, trong giới viết văn, làm thơ, làm báo hôm nay có nhiều người không biết Nguyễn Trọng Định, vì đơn giản anh đã ra đi quá sớm, khi tuổi đời mới vừa hai mươi sáu, trên chiến trường Quảng Nam - Đà Nẵng hồi Mậu Thân. Nhưng những ai đã biết anh, thì rất khó quên được anh.

Tôi thuộc số người ấy. Kỷ niệm về người bạn ấy luôn là phần trong sáng bậc nhất trong cái phần đời tôi đã sống qua. Đến nỗi tôi luôn có cảm giác như chúng tôi chỉ vừa mới xa nhau chưa lâu và tôi không thể không mỉm cười mỗi khi hình ảnh anh hiện lên trong trí nhớ. Vì đó thật sự là một con người đáng yêu, đáng quý.

Còn nhớ mùa tựu trường sáu mươi năm trước, chúng tôi bước vào cuộc đời sinh viên trong một khu trường toàn nhà cấp bốn hoang sơ ở gần chùa Láng (bây giờ là địa điểm của Trường Ngoại thương). Đấy là những năm đất nước đang ở "đỉnh cao muôn trượng" trong thơ ông Tố Hữu. Mặc dù vậy, cuộc đời sinh viên vẫn rất khổ cực. Chúng tôi luôn luôn đói, theo nghĩa đen. Đặc biệt là vào hai thời điểm: Mười giờ sáng và mười giờ tối. Mà bài vở thì khá nhiều. Tuy thế, có vẻ như chúng tôi đã sống rất vui. Bởi vì quả thực dạo ấy trong chúng tôi ai cũng có một thứ nội lực. Ấy là lý tưởng. Ở Nguyễn Trọng Định, điều này thể hiện rõ nhất.

Nhớ mãi người bạn ấy -0
Nhóm sinh viên Khóa 6, Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội năm 1964 (Nguyễn Trọng Định hàng trước, thứ hai từ phải sang).

Đấy là một chàng trai gần như bé con, cao cỡ chừng một mét sáu mươi gì đó, gầy guộc. Thân hình ấy lại đi với một tính nết dịu dàng, nhường nhịn, một chút rụt rè và kín đáo khiến Định dễ gần như một cô gái. Tính nết ấy mà sống tập thể thì được yêu lắm. Tôi đã mến Định đến mức khi thấy anh thân cả với người khác thì tôi giận. Một thứ tình cảm độc chiếm kiểu trẻ con mà sau này không bao giờ tôi lặp lại, trừ với phụ nữ...

Bao nhiêu lần tôi đã giận Định vì cái sự trẻ con này và Định của tôi đã làm lành thật tài nên rồi hai đứa vẫn chơi tiếp. Nhưng dần dà tôi đã nhận ra rằng con người yếu đuối về thân xác, rụt rè trong tính cách này còn ẩn giấu một sức mạnh tiềm tàng, một khát vọng sống và làm việc to lớn, không trẻ con một chút nào. Vượt qua mọi gian khổ của đời sinh viên, Định chịu đựng những hay dở của cuộc sống thực bình tĩnh, học rất quyết liệt, viết chăm chỉ ngay từ buổi đầu vào trường, đọc nhiều, nghiền ngẫm nhiều, và tranh luận cũng thế.

Nằm gối đầu lên sách ngắm trời sao
Nghe gió hè khẽ hát với phi lao

Hai câu thơ ấy của anh vẽ rất đúng con người Định và không khí sống của một lũ sinh viên nghèo chúng tôi thuở ấy. 

Dạo ấy, những nhà thơ của tương lai hầu như đều chui ra từ ống tay áo của các bậc đàn anh đầy quyền lực - cảm xúc Xuân Diệu, giọng điệu Chế Lan Viên, - nhưng những ai có chút bản lĩnh trong số họ đều cố làm một cuộc phá rào không ý thức. Lòng hăm hở đi tìm tiếng nói riêng của chúng tôi - trong đó Nguyễn Trọng Định là người hăng hái vào bậc nhất, thật đáng cảm động. Từ những dòng đầu còn non nớt, mang chất ca dao, Định đã cố sớm tìm cho mình một bản sắc riêng: Đó là thứ thơ có cấu tứ chặt, nhưng luôn lấy cảm xúc làm nền tảng, đúng như chất người anh. Bài thơ "Nước vối quê hương" là một thành công theo hướng này:

Bắc ấm nước mưa, con ngồi nhóm lửa
Nụ tích mấy mùa mẹ lại sẻ ra pha
Chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta
Mà nhấp khỏi cứ ngọt hoài đầu lưỡi

Thứ cảm xúc tràn đầy kiểu Thơ Mới vẫn được tiếp tục, nhưng đã được khuôn vào một cái tứ rất chặt. Lối sử dụng chi tiết của quan sát (chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta), đặc trưng của thơ ca thế hệ chống Mỹ, đã xuất hiện. Đấy là lúc mà những Bằng Việt và Lưu Quang Vũ còn chưa khẳng định. "Nước vối quê hương" không tài hoa và cô đúc bằng "Bếp lửa" của Bằng Việt, nhưng bù lại nó có cái ngây thơ ngơ ngác đáng yêu của mối tình đầu.

Những ngày ấy, với chúng tôi, cuộc chiến tranh vừa ở rất xa lại vừa rất gần. Những lứa đàn anh của trường đã nhập cuộc. Hầu như con đường đi của chúng tôi đã vạch sẵn: Sống và viết ở chiến trường. Tôi nhớ mãi hình ảnh Lê Anh Xuân (Ca Lê Hiến), sinh viên Khoa Sử, học trên chúng tôi hai năm. Với vóc người cao lớn, mái tóc xoăn, đẹp trai và cũng dịu dàng đến khả ái, Lê Anh Xuân và Định cùng xung phong đi B một đợt, nhưng do nhu cầu, anh được lên đường trước Định. Nhưng dù có đi B hay không đi B, tâm hồn của cả thế hệ chúng tôi luôn hướng về phía ấy. Không nên dễ dàng nói là may mắn hay không may mắn, nhưng thực tế là tuổi trẻ chúng tôi đã đến cùng lúc với cuộc chiến đấu lớn của dân tộc. Tuổi trẻ vốn đã mơ mộng, huống chi là những chàng trai trẻ yêu văn chương.

Chúng ta khôn lớn
Sắp mưa rồi đến trường mau kẻo muộn    
Ta băng qua dưới năm sắc cầu vồng 
Lòng nhủ thầm sẽ tan những cơn giông

                           (Sắc cầu vồng - Nguyễn Trọng Định)

Hoàn cảnh lớn tạo ra những tính cách lớn. Sự thăng hoa trong tâm hồn của cả một thế hệ là điều có thật. Một con đường đi như của Nguyễn Trọng Định lúc ấy hầu như là duy nhất đúng và đã được cuộc sống chọn sẵn. Đến nỗi tôi thực khó hình dung anh sẽ sống ra sao trong thời bình, anh sẽ là ai trong cuộc sống hôm nay chẳng hạn?

Những ngày làm Báo Nhân dân không lâu trước khi đi B là chặng đường tập kết và thực tập để anh vào với chiến trường lớn. Có hôm tôi cùng Định đi lang thang trong những đường phố Hà Nội bấy giờ đã vắng người vì phải sơ tán, hình như để đánh một bức điện cho một ông phóng viên thường trú nào đó của  báo. Có cảm giác như anh lạc lõng giữa thành phố này, anh đã từ đâu đó rất xa ghé qua đây chốc lát, để rồi lại đi tới những miền xa hơn. Những phút giây ngắn ngủi, những gặp gỡ mong manh, nhiều lúc hai đứa nói chuyện với nhau mà mắt vẫn nhìn đi đâu đó xa lắm. Hình như chúng tôi đang linh cảm về một cuộc sống khác, ở một nơi khác. Thắc thỏm, hồi hộp. Đôi lúc buồn vì một tình yêu chưa kịp đến đã đi. Đúng là những ngày không bình yên…

Nguyễn Trọng Định đã đi Nam và đã hy sinh chỉ sau đó không lâu. Đâu như chỉ khoảng nửa năm. Nửa năm, chỉ kịp làm quen với chiến trường, kịp tập nhịn đói và nếm vài trận sốt rét rừng. Mặc dù không đi cùng anh, nhưng tôi có thể hình dung ra hết những gì Định trải qua, vì chỉ sau đó ba năm, tôi cũng đi theo con đường của anh, chỉ khác là tôi mặc quân phục và làm lính trơn.    

Nhà báo Trần  Mai Hạnh đã kể lại phút giây cuối cùng của Định. Thoạt đầu không ai hiểu vì sao anh lại gục xuống - trên người không một vết thương: Kịp đến khi gỡ chiếc gùi trên lưng anh mới thấy một mảnh pháo đã xuyên qua gùi, cắm vào lưng Định, tất cả máu đều thấm vào chiếc gùi. Tất cả những gì anh mang theo - tư trang, gạo, thuốc và bản thảo những bài thơ, bài báo cuối cùng đều đẫm máu.

Sau này, khi làm phóng viên chiến tranh, tôi mới biết công việc làm báo ở chiến trường gian khổ và hiểm nguy như thế nào. Chúng tôi thực sự đơn độc, tự mình phải xoay xở lấy tất cả để đối phó với mọi tình huống, để không chỉ khỏi chết đói, chết vì bom đạn, mà còn để làm việc.

Chúng tôi vẫn nói đùa: Muốn làm báo ở mặt trận trước hết phải biết cách xin ăn, xin ở, xin đi nhờ xe... nụ cười luôn thường trực, trong bụng phải tích góp càng nhiều càng tốt kho truyện tiếu lâm, dù anh vốn có là người ít mồm ít miệng đi nữa, cũng buộc phải lém lỉnh dần lên.

Định của tôi, anh chàng rụt rè như con gái mà tôi đã tả ấy, đã sống ra sao nhỉ ở cái mặt trận ác liệt bậc nhất ấy? Vượt qua tất cả những ngang trái của chiến tranh, không hiểu sao tôi vẫn cứ khẳng định rằng người bạn của tôi đã đi con đường ấy vì không sao khác được. Có một câu thơ của một nhà thơ Pháp mà chúng tôi vẫn học ra rả trên ghế nhà trường dường như làm ra là để cho Định và cho cả thế hệ chúng tôi:

Nếu phải đi trở lại
Tôi đi lại đường này

Cho dẫu con đường đó dẫn tới cái chết. Đúng thế.

Anh Ngọc

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).