Nhân vật vua trong truyện thơ Nôm!

Thế giới truyện Nôm là thế giới của sự xung đột thiện ác, tốt xấu để bật ra bài học đạo lý làm người. Đây là một trong những lý do chính để nhân dân ta ưa thích, lấy đó làm phương thức, phương tiện giáo dục lưu truyền đã hàng ngàn năm.

Thời xưa, người nông dân khốn khổ bị đè nén, áp bức bởi ba thế lực, cường quyền (vua quan, cường hào, địa chủ); tục quyền (hủ tục, tập quán tiêu cực); thần quyền (thần linh, ma quỷ). Trong đó cường quyền là kẻ trực tiếp gây ra những bất hạnh, khổ sở cho con người, nên bị ghét nhất, mà vua là tiêu biểu. Nhưng bên cạnh những tên vua xấu, ác độc, bất nghĩa, bất nhân đáng cười, đáng lên án vẫn có những ông vua tốt mà ý nghĩa của nó vượt ra khỏi hình tượng để vươn tới một tầm cao nhân văn khác.

image001.jpg -0
Nhân vật vua và Tấm trong truyện “Cái Tấm, cái Cám”.

Với dân gian, tiếng cười luôn không bao giờ biết sợ, nó nhằm vào mọi thứ và mọi người. Nhà vua là kẻ trên ngai vàng cao nhất cũng bị hạ xuống để suồng sã, cười cợt. Một ông vua Trang vương (“Phạm Tải - Ngọc Hoa”) có hàng trăm cung tần mỹ nữ mà vẫn “đắm đuối” nhan sắc Ngọc Hoa, tìm mọi thủ đoạn để có người đẹp. Trước sự cứng rắn khôn khéo, kiên quyết của nàng: “Ba trăm mỹ nữ hiếm gì/ Mà lại bắt ép nữ nhi có chồng/ Lấy uy mà ở hiếp lòng/ Thời tôi tự vẫn cam lòng bội phu”, vẫn không từ bỏ ý định, độc ác hơn, hắn giết Phạm Tải để ép Ngọc Hoa “chung chăn gối”…

Sau này khi bị Diêm vương vạch tội đưa đến vạc dầu xử tội chết, Trang vương “biện luận”: “Sắc tuy chẳng có phong ba/ Làm sao mà đuối người ta bây giờ”. Đây lại là niềm tự hào của người nông dân: chúng tôi tuy phận nghèo, thấp cổ bé họng nhưng cũng có những “tuyệt sắc giai nhân” để vua quan các người thèm khát!

Một tên vua độc ác trong truyện “Hoàng Trừu” giết chồng người hãm hiếp vợ người: “Vua nay mắt phượng mày ngài/ Hiếp người con gái có chồng làm chi?/ Giết chồng hãm vợ ra gì/ Làm vua bất chính hết bề trị dân!”. Đây không chỉ là lời của dân gian nói về một tên vua cụ thể mà nói chung với tất cả lũ vua quan gian ác rằng: kẻ bất chính thì không thể trị dân. Vì dân luôn chính nghĩa. Đây không hề là triết lý hay khẩu hiệu mà là sự thật từ trong bản chất. Ở trong văn cảnh này càng rõ, vua được miêu tả trong thế đối lập giữa hình thức (mắt phượng mày ngài) của những gì tốt đẹp, sang trọng, quý phái với nội dung (giết chồng hãm vợ) độc ác, tàn bạo. Tác giả dân gian đã bình luận hành động này là “ra gì”, tức những chuyện chẳng ra gì, xấu xa. Mà như thế thì làm sao “trị dân”!

Không chỉ một vua độc ác mà có nhiều vua ở nhiều nước. Chàng Phạm Công (Phạm Công - Cúc Hoa) tài năng đỗ trạng liền bị vua ép gả công chúa. Chàng không chịu, vua tức giận đày sang nước Hung Nô. Ở đây chàng cũng đỗ trạng và lại bị vua ép lấy công chúa. Phải chăng dân gian muốn nói rằng trên đời này có nhiều kẻ ác lắm, ở đâu có vua là ở đấy có kẻ ác, mà có khi chính vua là kẻ ác nhất. Những kẻ đó hoàn toàn xa lạ với tình người ấm áp của dân gian.

Phạm Công từ chối làm phò mã vì chàng muốn thủy chung với vợ nhưng vua bỏ qua tình nghĩa vợ chồng thường tình của con người để đạt mục đích cá nhân riêng. Ngoại hình và tính cách của tên bạo chúa không có tính người, tình người hiện lên thật thống nhất: “Đức vua đỏ mặt hồng hồng/ Tháng ngày ép buộc đèo bòng thất gia”.

Ép không xong, ông ta hiện thân là một con quỷ: “Vua bèn nổi giận quát ngay/ Mắng rằng: Ta chịu thằng này hay chăng?/ Vội vàng thét mắng đùng đùng/ Truyền quân trị tội Phạm Công chớ chày/ Quân vâng hiệu lệnh chặt tay/ Khoét hai con mắt, rút mày, xé tai…”. Dưới cái nhìn dân gian có những kẻ ngồi trên ngai vàng nhưng lòng dạ lại là quỷ sứ. Nhưng có những người xuất thân hèn mọn, vất vưởng phận ăn mày lại có một tâm hồn vàng ròng của lòng trung nghĩa, tín nghĩa. Đấy chẳng phải là quan niệm rạch ròi, khinh ghét cái ác cái xấu; tự hào, yêu quý cái tốt, cái nghĩa, cái tình của những người bình dân đó sao?

Trong “Nhị Độ Mai” có lời bình luận mỉa mai đích đáng về nhân vật vua: “Thương thay trọng nghĩa mấy người/ Kẻ thì oan thác người nơi ngục hình/ Trách vua Đường ở bất minh/ Dung bên gian đảng mà khinh hiền tài”. Ở đây không chỉ nói đến một “vua Đường” mà là cả bọn, cả lũ “mấy người”, từ đời này sang đời khác, từ nơi này đến nơi khác đều “bất minh” cả.

Càng thấy tính chiến đấu trong truyện Nôm thật mạnh mẽ. Đó cũng là sức sống mãnh liệt của dân gian không chịu cầm tù bởi một ý thức hệ phong kiến lạc hậu, phản động nào đó. Một nét thi pháp miêu tả nhân vật phản diện trong truyện Nôm là hành động nhanh gọn, dứt khoát, luôn trong hoàn cảnh “vội vàng”. Để làm bật ra tính vô cảm, thiếu tính người, nhân vật vua Hung Nô trong “Phạm Công - Cúc Hoa” có hành động mang tính cơ giới: “Vua bèn nổi giận quát ngay” rồi “vội vàng thét mắng đùng đùng”…

Những ông vua tốt là những ai? Đó là một vua Thủy Tề tử tế, ân nghĩa. Truyện kể, Thạch Sanh giết chết đại bàng rồi đi mãi vào lòng hang, bắt gặp cái lồng nhốt một người. Chàng phá lồng cứu, được biết người đó là Thái tử con vua Thủy Tề. Thạch Sanh theo Thái tử xuống Thủy cung.

Đền ơn chàng, vua Thủy Tề biếu chàng vô số ngọc ngà châu báu nhưng Thạch Sanh chỉ xin một cây đàn thần. Nhà vua vui lòng ban tặng. Chi tiết này nói được hai ý nghĩa về vị vua đáng kính: biết ơn và trả ơn. Đồng ý tặng cây đàn thần tức nhà vua không chỉ rộng rãi, hào phóng mà còn là người hiểu nghệ thuật và trân trọng giá trị của nghệ thuật.

untitled-6.jpg -1
Hình minh họa vua Thủy Tề tặng đàn cho Thạch Sanh.

Là người chủ cây đàn thần, vua Thủy Tề tất nhiên hiểu sức mạnh, vai trò của nó nhưng vẫn tặng cho Thạch Sanh. Ngoài sự trân trọng, niềm tin vào Thạch Sanh, còn là một mong muốn dùng nghệ thuật chân chính để nhân lên bao điều tốt lành cho cuộc sống. Như vậy, vua Thủy Tề trở thành một biểu tượng cho khát vọng về một mỹ học nghệ thuật vì lẽ phải, giúp người tốt. Thì ra người yêu, hiểu nghệ thuật, dù trong môi trường nào cũng không thể là người xấu!?

Một ông vua tốt nữa, trên dương thế, cũng trong truyện “Thạch Sanh”. Truyện kể tiếp, nghe được tiếng đàn “tích tịch tình tang…” của Thạch Sanh, công chúa bỗng nói được. Tất nhiên nàng tâu sự tình với vua cha. Nhà vua truyền gọi cho Thạch Sanh đến. Rõ mọi chuyện, vua ra lệnh bắt giam mẹ con Lý Thông, cho chàng kết hôn cùng công chúa. Chi tiết này chỉ có trong cổ tích và ông vua này cũng “tốt” một cách “cổ tích”, tức là “không tưởng”.

Ở chỗ “ông” đã vượt qua mọi luật lệ nghiêm khắc của triều đình, vượt qua những tín điều, quan niệm hôn nhân “môn đăng hộ đối”… để gả con gái cành vàng lá ngọc cho một tiều phu “tứ cố vô thân”… Chỉ có một khát vọng “ở hiền gặp lành” mãnh liệt cùng khát vọng cháy bỏng về một chế độ xã hội bình đẳng, công bằng, dân gian mới sáng tạo ra được chi tiết ấy. Chưa đủ, còn là một khát vọng vĩnh viễn hạnh phúc: Về sau, do vua không có con trai, Thạch Sanh được phong làm vua và sống hạnh phúc mãi mãi cùng hoàng hậu!

Phải chăng truyện còn một ẩn ý này: để có một Thạch Sanh rạng rỡ, viên mãn vĩnh cửu bên công chúa thì phải có những ông vua như vậy. Thế là, dù có bị bóc lột, dân gian vẫn có tư tưởng, có thể còn “yếm thế”, “cải lương”, là mong muốn một sự cai trị công bằng, dân chủ (!?). Giả sử ông vua này “móc ngoặc”, lại lấy Lý Thông làm “sân sau”… thì Thạch Sanh “hết cửa”…!!!

Với “Cái Tấm, cái Cám” - một mô hình dân chủ lý tưởng nên nhân vật là sự bình đẳng triệt để: ai cũng như ai. Vua như dân, nên kén vợ từ dân chúng mà không cần quan tâm nguồn gốc, thân thế. Là vua nhưng đi nhặt cả chiếc hài rơi… Là vua nhưng để cho hoàng hậu trèo cau hái quả, tức chẳng giúp vợ tí tẹo nào… Dân lại như vua. Mẹ con Cám lại có thể giết hoàng hậu dễ dàng như chính chúng là “vua” vậy. Truyện có nhiều tiếng nói. Riêng vua, hầu như không nói. Có thể truyện muốn nêu ra cái ý nghĩa: muốn có dân chủ phải tạo ra một “môi trường dân chủ”, “vua” chỉ cần nghe, không nói. Còn là dân, thì ai cũng có thể nói, nhân vật Tấm nói nhiều nhất… Truyện đã kiến tạo một “môi trường dân chủ” thật sự bình đẳng, nhân văn.

Một thời chúng ta chỉ chú ý tới nhân vật ông vua xấu biểu trưng cho chế độ phong kiến tàn ác… Trong khi đó vẫn có những ông vua tốt đại diện cho khát vọng công lý, lẽ phải… Tức là sa vào phiến diện, xã hội học, nên đã bỏ qua những ý nghĩa cần được đào sâu, tìm hiểu. Như một viên ngọc được thời gian mài rũa, truyện Nôm ngày càng phát sáng…

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.