Nhạc sĩ Tôn Thất Lập: Trọn một đời “Hát cho đồng bào tôi nghe”

Ở tuổi 81, ông vẫy tay từ biệt cõi tạm. Lão nhạc sĩ tóc trắng như cước, nụ cười hiền lành với giọng Huế chậm rãi, đôn hậu vẫn in đậm trong tâm trí người ở lại. Cả một đời, nốt nhạc bay lên từ cuộc sống cần lao, tranh đấu cho hòa bình, yên vui như chính bài hát để đời của ông: “Hát cho đồng bào tôi nghe”.

Mỗi dịp 30/4, tôi thường được gặp lại nhạc sĩ Tôn Thất Lập cùng các nhạc sĩ lão thành của phong trào “Hát cho đồng bào tôi nghe” ở TP Hồ Chí Minh. Tái ngộ để ôn lại và hát vang những ca khúc sôi sục khí thế đấu tranh, đòi tự do dân chủ của sinh viên đô thị ngày nào. Ông hay ngồi lặng lẽ một góc, quan sát mọi người đàn hát, trò chuyện bằng ánh mắt trầm tư, trìu mến, thỉnh thoảng mới góp chuyện bằng giọng Huế nhỏ nhẹ. Qua mỗi năm, những gương mặt quen thuộc thưa dần, còn mái đầu người ở lại điểm thêm sợi bạc. Nay, nhạc sĩ Tôn Thất Lập - một trong những cánh chim đầu đàn của phong trào ấy, đã mãi mãi vắng bóng.

1 nhac si ton that lap.jpg -0
Nhạc sĩ Tôn Thất Lập.

Đầu thập niên 60 của thế kỷ trước, tên tuổi Tôn Thất Lập đã được biết đến ở miền Nam qua ca khúc “Tiếng hát về khuya”. Ca khúc nối dài loạt nhạc phẩm của các nhạc sĩ tài danh thuở ấy dành tặng nữ ca sĩ Thanh Thúy như “Ướt mi” (Trịnh Công Sơn), “Thúy đã đi rồi” (Y Vân)… Lời ca dành tặng một người nhưng vẫn lãng đãngnỗi u hoài của một thế hệ nước mất nhà tan. “Đêm đêm tiếng ca hao gầy đậu xuống môi em/ Trút hơi sau cùng giải thoát nhân gian...”.

Lớn lên trong chiến tranh, lại có cha là cán bộ Việt Minh, Lập hiểu thế nào là nỗi đau mất nước. Từ nhỏ ông sớm thuộc làu câu chuyện về vị vua yêu nước Duy Tân mà cha thường răn dạy: “Tay nhớp, lấy nước mà rửa. Rứa nước nhớp, lấy chi mà rửa? Lấy máu mà rửa!”. Chiến tranh lan rộng. Gót giày Mỹ giày xéo khắp nẻo quê hương. Lòng chàng sinh viên xứ Huế đau xót trước khói lửa điêu linh. Yêu văn chương Tự Lực Văn Đoàn, yêu Thơ Mới và truyện võ hiệp Trung Quốc từ thuở cắp sách tới trường nên ở Lập, lẫn những ước vọng lãng mạn thanh xuân còn là khí khái kẻ sĩ thời loạn. Lời người kiếm khách trong bài thơ “Tống biệt hành” thôi thúc bước chân chàng sinh viên rong ruổi về phương Nam.

Ca khúc “Hát cho đồng bào tôi nghe” ra đời năm 1966 tại Huế trong những ngày binh biến lan tràn. Nhưng phải đến mùa xuân năm 1968, tại Đêm Hội Tết Quang Trung Sài Gòn do Tổng hội Sinh viên Sài Gòn tổ chức, ca khúc này mới lan tỏa rộng rãi.

Ông nhớ lại: “Mùa xuân ấy, dòng người hối hả sắm Tết đều đổ xô về Trường Quốc gia Hành chánh, hướng lên ngọn cờ hồng đang kiêu hãnh bay trên nền trời xanh ngát. Đó là cờ Quang Trung. Giữa ngọn cờ có hình tròn màu vàng, nhìn xa không khác lá cờ đỏ sao vàng là mấy. Đêm đó, hàng vạn người đã vượt hàng rào cảnh sát phong tỏa, đe dọa, kéo nhau về dự đêm hội. Bên ngoài, cảnh sát càng siết chặt vòng vây. Bên trong, hàng vạn ánh đuốc càng bừng lên trên nền bức tranh hoành tráng dài hàng chục mét vẽ lại hào khí Thăng Long. Tiếng hát dàn đồng ca vang lên bài hát của tôi. Tôi như run lên khi đến đoạn điệp khúc, hàng ngàn tiếng vỗ nhịp bên dưới hòa điệu và ca vang: “Ngày nao thênh thang dân đứng lên phá xiềng nô lệ/ Ngày nao hiên ngang ta cùng nhau đứng chung đồng bào/ Giành lại dòng sông này cho lúa chín khắp đồng xanh/ Giành lại thành phố đó bàn tay nâng cao hòa bình”. Đến năm 1969, phong trào đấu tranh của chúng tôi mới ra mắt chính thức với tên gọi “Hát cho đồng bào tôi nghe” và ca khúc trở thành nhạc hiệu của phong trào, nối kết triệu con tim yêu hòa bình, thôi thúc bao thế hệ sinh viên xuống đường đấu tranh”.

Ngày ấy, Tôn Thất Lập làm Trưởng Đoàn Văn nghệ sinh viên học sinh Sài Gòn kiêm Chủ tịch Hội Sinh viên sáng tác. Là cánh chim đầu đàn của phong trào, Tôn Thất Lập tập hợp các nhạc sĩ sinh viên, chính thức dùng âm nhạc như vũ khí đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, hòa chung với phong trào xuống đường, tuyệt thực, đốt xe tăng Mỹ... đòi Mỹ rút quân khỏi miền Nam. Ngoài Tôn Thất Lập, đội ngũ nòng cốt của phong trào còn quy tụ nhiều gương mặt ưu tú như Trần Long Ẩn, Trương Quốc Khánh, Nguyễn Văn Sanh, Nguyễn Phú Yên, La Hữu Vang, Miên Đức Thắng...

Mỗi lần xuống đường, mỗi lần lên sân khấu, những người trẻ hừng hực dòng máu nóng không run sợ trước dùi cui, họng súng quân thù.Tiếng hát vang lên cả trong lao tù tăm tối. Bị đày đọa ở chốn tù ngục, Tôn Thất Lập vẫn sáng tác bài “Hát trong tù” động viên tinh thần anh em. Những bài hát “Đồng lúa reo”, “Người đợi người”, “Đỉnh non cao”, “Đêm hồng”… của ông lan tỏa đến mọi ngõ ngách, hun đúc tinh thần yêu nước của nhân dân.

Năm 1973, Tôn Thất Lập cùng một số đồng chí được phân công sang Pháp nhằm đưa phong trào đi sâu vào sinh viên Việt kiều cũng như bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình. Sáng 30/4/1975, ông đón nhận tin Việt Nam thống nhất từ sơ Francoise Vandermeersh. Trong niềm hân hoan nghẹn ngào, ông sáng tác ngay bài "Hướng về quê hương độc lập": "Chúng ta hướng về Tổ quốc thân yêu/ Và sáng nay ta thấy lòng phơi phới/ Phút giây rộn ràng Tổ quốc hoàn toàn độc lập/ Từ bao năm bao anh hùng nằm xuống/ Nhớ ơn Người từ thuở khai sinh...".

Sau ngày thống nhất đất nước, Tôn Thất Lập công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin TP Hồ Chí Minh. Ông từng giữ chức Phó chủ tịch Hội Âm nhạc TP Hồ Chí Minh, Phó chủ tịch Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Bận rộn với công việc như vậy nhưng ông vẫn miệt mài dệt nên những bài ca mới. Khúc ca giữa thời bình vẫn gắn chặt với bóng hình đất nước, nhân dân cần lao. Đó là ca khúc cổ vũ công cuộc kiến thiết quê hương giàu đẹp như “Trị An âm vang mùa xuân” hay tâm sự người lính trở về từ chiến trường như “Tình anh”…

2 nhac si ton that lap bieu dien.jpg -1
Nhạc sĩ Tôn Thất Lập thời trẻ.

Và ở Tôn Thất Lập, không chỉ có những bài ca tranh đấu, cổ vũ mà còn có những sắc màu lãng mạn, tha thiết của tình yêu đôi lứa. Bóng hồng trong “Tình ca mùa xuân” chính là người vợ dịu hiền, đảm đang của ông - ca sĩ Liên Hương. Màu hòa bình tô thắm non sông, tiếng ca khắp nơi như bừng rộ khiến trái tim người nhạc sĩ rạo rực khi mùa xuân về. “Mùa xuân đến thật lâu/ Mới hay tình ban đầu/ Như mùa hoa vừa nở/ Cánh én tung trời cao/ Xuân xanh tình kết nụ/ Xuân hồng giấc em ngủ/ Đời vui khoác áo mới/ Phố phường hát tình ca…”.

Đầu thập niên 90 thế kỷ XX, Tôn Thất Lập gia nhập nhóm “Những người bạn” cùng nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, Từ Huy, Nguyễn Ngọc Thiện, Thanh Tùng, Trần Long Ẩn, Nguyễn Văn Hiên. Nhóm ra đời với mong muốn định hướng thị hiếu âm nhạc bằng những tác phẩm âm nhạc mới, trữ tình và đầy sức sống trước sự lấn át của nhạc ngoại quốc. Trong nhóm, ông được gọi là “anh Ba” sau “anh Hai” là nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Âm nhạc của nhóm tươi mới, trẻ trung, đậm chất pop, rock…

Loạt nhạc phẩm của “anh Ba” Tôn Thất Lập như “Tình ca tuổi trẻ”, “Mưa thì thầm”, “Oẳn tù tì”, “Cô bé dễ thương”, “Tình yêu mãi mãi”, “Nụ hôn”… được nhiều ca sĩ nổi tiếng biểu diễn và ghi dấu ấn sâu đậm trong lòng người hâm mộ. Không chỉ sáng tác, bảy nhạc sĩ còn dẫn dắt, nâng đỡ nhiều ca sĩ trẻ mới vào nghề. Không ít trong số đó sau này trở thành những giọng ca nổi tiếng như Quang Dũng, Thu Minh, Đàm Vĩnh Hưng… Với người trẻ, Tôn Thất Lập luôn dành cho họ sự quan tâm, chỉ bảo tận tình.

Cuối đời, khi mái đầu đã trắng xóa như mây, ông vẫn theo dõi sát sao đời sống âm nhạc đương đại, nhất là dòng nhạc trẻ. Vậy nên không ngạc nhiên khi một lão nhạc sĩ đã ngót 80 tuổi nhưng vẫn có thể nhịp chân theo điệu EDM sôi động hay bản hit của Sơn Tùng M-TP. Ông trân trọng tài năng trẻ, khen họ biết nắm bắt công nghệ hiện đại, biết bám xu hướng thời thượng để sáng tác nên ca khúc bắt tai, ăn khách. Họ có khác gì ông thời trong nhóm “Những người bạn”.

Điều ông mong mỏi là những ca khúc ấy đừng “sớm nở tối tàn”, mà hãy đọng lại một điều gì đó ý nghĩa cho đồng bào, nâng tầm lên với thời đại, với thế giới. Bởi như ông tâm sự: "Âm nhạc là chiếc cầu nối trái tim của con người. Qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, âm nhạc như một binh đoàn đặc chủng đưa con người đến gần nhau hơn, hướng đến những điều cao cả".

Mai Quỳnh Nga

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".