Nhạc sĩ Thanh Tùng: Liêu xiêu con đường nhỏ với hoa cúc vàng

Sau 8 năm nhạc sĩ Thanh Tùng qua đời, các con của ông bắt đầu thực hiện dự án "Legacy of love - Di sản tình yêu" bao gồm chương trình hòa nhạc, phim tài liệu và tập sách về nhân vật tài hoa này. Với 68 năm hiện diện trên dương gian, nhạc sĩ Thanh Tùng đã mang đến những bản tình ca thật nồng nàn cho nhiều thế hệ, mà ít biết nỗi ngậm ngùi riêng ông âm thầm gánh chịu.

Nhạc sĩ Thanh Tùng sinh ngày 15/9/1948 tại thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Năm 6 tuổi, Thanh Tùng theo cha mẹ tập kết ra Bắc và trưởng thành trên mảnh đất Thăng Long. Sau khi tốt nghiệp bậc phổ thông, Thanh Tùng được cử đi học khóa chỉ huy dàn nhạc tại Nhạc viện Bình Nhưỡng - Triều Tiên, rồi về công tác ở Đài Tiếng nói Việt Nam từ năm 1971 đến năm 1975.

1.jpg -0
Nhạc sĩ Thanh Tùng (1948-2020).

Non sông thống nhất, Thanh Tùng chuyển vào TP. Hồ Chí Minh sinh sống và bắt đầu sáng tác ca khúc. Bài hát đầu tiên "Cây sầu riêng trổ bông" được nhạc sĩ Thanh Tùng viết cho vở cải lương cùng tên, đã nhanh chóng thoát khỏi tấm màn nhung sân khấu để vang lên trên môi khán giả âm nhạc, như ông bày tỏ: "Ca khúc đó có tính cách tình huống cho vở cải lương, nói về sự chia ly của một đôi vợ chồng, mà người ta đã phấn đấu vượt qua gian khổ như thế nào để sum họp lại với nhau và cảm thấy hạnh phúc. Thế nhưng, bài hát đầu tiên tôi viết để nói lên tiếng nói công khai của mình, mà xác lập hình ảnh của tôi là bài hát "Hát với chú ve con", viết năm 1982. Tôi nghĩ "Hát với chú ve con" là "tuyên ngôn" của dòng nhạc pop trữ tình của Việt Nam".

Thập niên 80 của thế kỷ XX, nhạc sĩ Thanh Tùng rất đắt show dàn dựng các tiết mục biểu diễn cho những đoàn văn công địa phương. Đặc biệt, nhạc sĩ Thanh Tùng gắn bó sâu sắc với Đoàn Ca múa nhạc Hải Đăng ở Nha Trang - Khánh Hòa quê hương mình. Tại đây, nhạc sĩ Thanh Tùng đã sáng tác hàng loạt ca khúc làm nên tên tuổi ông như "Phố biển", "Chuyện tình của biển", "Lời tỏ tình mùa xuân", "Giọt nắng bên thềm", "Giọt sương trên mí mắt", "Mưa ngâu", "Ngôi sao cô đơn"…

Ca khúc Thanh Tùng nhanh chóng lan tỏa vào đời sống cộng đồng, theo đúng cách ông quan niệm: "Tôi luôn thấy rõ ảnh hưởng của các ca khúc tới quần chúng nên khi viết, tôi rất kỹ lưỡng cả về ngôn từ lẫn giai điệu, tức là luôn cố gắng không làm băng hoại tình cảm lành mạnh của con người. Tuy nhiên, mặt khác, tôi rất phóng túng khi thể hiện tình cảm của mình. Tình cảm của tôi có thật trong lòng tôi, nó mang lại nhiều sự tốt đẹp cho đời tôi, cho nên nó không có gì xấu và không thể xấu được".

Nhạc sĩ Thanh Tùng hào hoa và đào hoa. Thế nhưng, người phụ nữ duy nhất mà ông tôn thờ là vợ mình - bà Phạm Thị Minh. Họ gặp nhau khi Thanh Tùng 20 tuổi và Phạm Thị Minh vừa tròn 18 tuổi. Sau 3 năm hẹn hò, họ kết hôn vào năm 1971 tại Hà Nội và có ba người con lần lượt được đặt tên là Nguyễn Thanh Bách, Nguyễn Thanh Thông và Nguyễn Thị Bạch Dương.

Sau khi cùng chồng chuyển vào định cư ở đô thị phương Nam, bà Phạm Thị Minh có một thời gian ngắn làm việc cho Đài Truyền hình TP. Hồ Chí Minh rồi xin ra khỏi biên chế để hoạt động kinh doanh. Khả năng buôn bán khéo léo của bà Phạm Thị Minh đã giúp nhạc sĩ Thanh Tùng có được cơ ngơi ổn định mà yên tâm theo đuổi nghệ thuật.

Căn biệt thự đầu tiên của họ trên đường Cây Điệp, quận 1, TP. Hồ Chí Minh chính là không gian mơ mộng xuất hiện trong ca khúc "Hoa tím ngoài sân" mà nhạc sĩ Thanh Tùng miêu tả: "Một ngày tình cờ/ Trên đường phố tôi có bàn chân em/ Mặt trời thì hồng/ Còn trên cây khế có nhiều tiếng chim".

pham thi minh.jpg -1
Bà Phạm Thị Minh thời thanh xuân.

Có được người vợ tháo vát và chiều chuộng chồng con, nhạc sĩ Thanh Tùng thỏa chí tang bồng với bạn bè, với giai điệu. Thế nhưng, khi hạnh phúc đang nở rộ, thì bà Phạm Thị Minh mắc bạo bệnh và qua đời vào năm 1990, khi mới 40 tuổi. Lúc vợ còn sống, nhạc sĩ Thanh Tùng chỉ viết một ca khúc duy nhất tặng hiền thê là bài hát "Em và tôi". Vì vậy, giai đoạn đầu tiên không còn bà Phạm Thị Minh bên cạnh, nhạc sĩ Thanh Tùng không thể nào che giấu được sự hụt hẫng mỗi lần nhớ về con phố Nghi Tàm mà họ từng hẹn hò thuở thanh xuân ở Hà Nội. Nỗi tiếc thương ấy được ông gửi vào ca khúc "Lối cũ ta về" bâng khuâng "Lối cũ ta về, sỏi nghiêng gót giày, chiều nghiêng mắt nắng, buồn chờ tóc mây/ Lối cũ ta về, dừng chân trước thềm, chờ nghe trong gió mùi hương ngọc lan".

Giữ lời hứa với hiền thê Phạm Thị Minh lúc hấp hối, nhạc sĩ Thanh Tùng chấp nhận gà trống nuôi con để chăm lo cho ba đứa con khôn lớn và thành đạt. Từ sản nghiệp của vợ để lại, nhạc sĩ Thanh Tùng đầu tư kinh doanh nhiều lĩnh vực, từ khai thác nước khoáng thiên nhiên đến mua bán bất động sản và mở nhà hàng. Tất nhiên, nhạc sĩ Thanh Tùng không giàu có như nhiều đại gia bây giờ, nhưng ông biết được sự nổi tiếng của mình và biết sống phong lưu.

Nhạc sĩ Thanh Tùng là người đầu tiên ở Sài Gòn chơi xe hơi cổ. Những chiếc ôtô đã xuất hiện hàng mấy chục năm trước được nhạc sĩ Thanh Tùng mua lại rồi tân trang rất công phu. Và bao giờ nhạc sĩ Thanh Tùng dạo phố trên những chiếc xe hơi cổ đầy chất hưởng thụ sành điệu ấy, cũng có mỹ nhân bên cạnh.

Phần lớn nhân vật "em" trong ca khúc của nhạc sĩ Thanh Tùng đều có địa chỉ cụ thể. Ông từng sánh bước với nhiều người mẫu, diễn viên, ca sĩ… Tuy nhiên, những gì mang tính bí mật cá nhân thì chỉ chính họ mới có quyền tiết lộ. Chỉ xin nêu vài ví dụ mà nhạc sĩ Thanh Tùng từng công khai bộc bạch. Với ca sĩ Ngọc Bích, nhạc sĩ Thanh Tùng đã viết tặng hai ca khúc "Ngôi sao cô đơn" và "Giọt nắng bên thềm". Với ca sĩ Ngọc Thúy, nhạc sĩ Thanh Tùng đã viết tặng ba ca khúc "Phố biển", "Chuyện tình của biển" và "Lời tỏ tình mùa xuân".

Người đẹp có ý nghĩa cực kỳ then chốt trong các ca khúc của nhạc sĩ Thanh Tùng. Nếu không rạo rực trái tim đắm đuối, chắc chắn nhạc sĩ Thanh Tùng không có được cảm hứng để viết nên những ca khúc quyến rũ bao nhiêu khán giả, như ông tâm sự: "Con đường âm nhạc của tôi đầy ắp tình yêu, chỉ tình yêu thôi. Nhân vật trong ca khúc của tôi bao giờ cũng là người phụ nữ, và đúng là có nhiều nhân vật lắm".

Phải thừa nhận nhạc sĩ Thanh Tùng ăn nói rất có duyên. Trong sự hoạt ngôn của ông luôn pha trộn sự hài hước và sự trìu mến. Giữa đám đông, nhạc sĩ Thanh Tùng luôn biết cách pha trò, như ông tự thú: "Tôi rất thích cười. Không có gì sướng bằng cười cho đã đời. Cách tốt nhất là nghe chuyện tiếu lâm, nghe càng nhiều càng tốt, biết càng nhiều. Rảnh rỗi họp mặt nhau nghe rồi kể, kể rồi nghe, rồi cười. Hơn mười thang thuốc bổ đó".

Tuy nhiên, khác với bề ngoài quảng giao, nhạc sĩ Thanh Tùng luôn đối diện với sự trống vắng trong ngôi nhà của mình. Hình ảnh hiền thê Phạm Thị Minh chưa bao giờ rời xa tâm trí nhạc sĩ Thanh Tùng. Kỷ niệm 10 năm vĩnh viễn mất đi người vợ tào khang, nhạc sĩ Thanh Tùng đã sáng tác ca khúc "Một mình" đầy day dứt: "Nhớ em vội vàng trong nắng trưa, áo phơi trời đổ cơn mưa/ Bâng khuâng khi con đang còn nhỏ, tan ca bố có đón đưa".

Bước sang thế kỷ XXI, nhạc sĩ Thanh Tùng bị bệnh tiểu đường. Ông ít lui tới đám đông và giảm dần các phi vụ thương mại. Sau lần đột quỵ đầu tiên vào năm 2006, nhạc sĩ Thanh Tùng đã phải di chuyển bằng xe lăn và phát âm khá khó nhọc. Mỗi chiều nhạc sĩ Thanh Tùng từ nhà riêng ở Bình Thạnh ra ngồi tư lự ở một quán nhỏ bên sông Sài Gòn. Dẫu chải chuốt và lịch lãm, nhưng hình ảnh ấy của nhạc sĩ Thanh Tùng vẫn toát ra một vẻ cô đơn không dễ sẻ chia. Năm 2008, nhạc sĩ Thanh Tùng bị đột quỵ lần thứ hai, và ông chuyển ra Hà Nội sống với con cái. Từ đó, nhạc sĩ Thanh Tùng tách biệt hẳn với giới mộ điệu, và sống lặng lẽ cho đến khi vẫy tay giã biệt dương gian vào ngày 15/3/2016.

Nhạc sĩ Thanh Tùng cả đời viết tình ca đôi lứa, bằng tất cả sự say mê. Ông thổ lộ: "Tình yêu là cái không bao giờ hết, cũng như đôi khi nó không bao giờ có. Chính vì vậy tôi không bao giờ nói có, cũng như không bao giờ nói không với tình yêu. Tôi có thể nói không với một cuộc hôn nhân, hay nói không với một cuộc sống ràng buộc nam nữ... Nhưng với tình yêu, thì tôi không nói không và cũng không cần nói có, vì đó là tâm sự mà tôi không cần phải thổ lộ cùng ai... Với tôi, quan trọng là trong lòng tôi có tình yêu, còn người ta có yêu tôi hay không thì cũng không có gì đáng bận tâm. Vấn đề là tôi có yêu được cuộc sống này hay không, hay có yêu được một người nào đó hay không".

Ca khúc cuối cùng của nhạc sĩ Thanh Tùng có tên gọi "Hoa cúc vàng" được viết những ngày ông nằm trên giường bệnh, bùi ngùi thương nhớ người vợ quá cố Phạm Thị Minh: "Đêm qua anh nằm mơ, anh mơ thấy em về/ Khi anh tuổi đôi mươi em mới lên mười tám/ Trong tim em ngập nắng mang theo đóa cúc vàng/ Em tặng mùa thu sang mùa thu bông hoa thiên đường".

Tuy Hòa

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.