Nhà thơ Yên Thao: Từ “ông” trữ tình đến “ông” hài hước

Yên Thao tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh. Ông sinh năm 1927, là người Hà Nội gốc. Từ 1946 đến 1953, ông có thời gian dài là phóng viên của các báo: Chiến đấu Quân khu 2, Quân Bạch Đằng, Liên khu 3…Từ 1957 đến 1991, ông là phóng viên, Trưởng ban Văn hóa - xã hội, Trưởng ban Bạn đọc Báo Hà Nội mới.

1. Hồi mới "chân ướt chân ráo" về Báo Hà Nội mới, có ba bậc trưởng lão mà tôi kính nể. Người thứ nhất là ông Dương Linh đa năng, đa tài. Người thứ hai là ông Phấn Đấu tinh tế, nhanh nhạy. Người thứ ba là ông Yên Thao thông minh, hóm hỉnh. Và bộ ba này là những người làm báo chuyên nghiệp, từng một thời góp phần làm nên dấu ấn và bộ mặt của tờ báo.    

Với tôi, riêng ông Yên Thao có vẻ "đặc biệt" hơn một chút. Có thể do tôi với ông cùng là dân làm thơ. Có thể do ông là người xuề xòa, giản dị, dễ gần gũi và rất hay kể chuyện tiếu lâm hiện đại. Cũng có thể ông là người có tài biến tất cả những chuyện quan trọng trở thành không quan trọng qua cách nói của ông chăng? Hồi ấy, nhiều đơn vị kinh doanh có phong trào viết tắt không ra lối Tây mà cũng không ra lối ta. Ông hỏi tôi: "Thế cậu có biết HOKIMEX là gì không? BAHOATOHO là gì không?".

Không chờ tôi trả lời, ông giải thích luôn: "HOKIMEX là tên viết tắt của Công ty Xuất nhập khẩu quận Hoàn Kiếm. Cái tên này là có thật. Còn BAHOATOHO (ba hoa tô hô) là tên viết tắt của Cửa hàng Bách hóa Tổng hợp Tràng Tiền. Cái tên này là do tớ vừa bịa ra đấy. Cứ cái đà viết tắt vô lối này thì…".

Một lần gặp tôi, ông bảo: "Mình mới chuyển từ Ban Văn hóa - Xã hội sang Ban Bạn đọc trước khi nghỉ hưu. Mục mình đang "gác gôn" và cố gắng "nuôi" sao cho "ra môn ra khoai" là "Mỗi ngày một chuyện". Nhớ đi đâu, thấy cái gì hay ho thì viết cho mình. Có thể viết đều đều cũng được, vì mục này mỗi ngày ra một cái, tốn bài lắm đấy!

Quan trọng là phải viết làm sao cho cô đọng nhưng phải "hoạt" và "hóm" nhé! Phải "hy sinh" tên tác giả dưới cái bút danh rất chung chung là "Người xây dựng" đấy". Tôi đáp lại thịnh tình của ông: "Vâng, cháu biết mà! Từ nhỏ, cháu đã đọc Hà Nội mới và biết "Mỗi ngày một chuyện" là "đặc sản" truyền thống duy nhất của báo ta từ khi mới xuất bản kia. Cháu và nhiều người đọc nó như một thói quen không thể thiếu. Tính ra cũng phải mấy chục năm ròng rã rồi, bác nhỉ?".

Rồi có một lần xuống cơ sở, tôi "lượm" được một chuyện: Có một người không thi thố gì, vậy mà rốt cục lại được đặc cách trao giải trong một cuộc thi thiết kế, kiến trúc một chợ khá lớn và có tiếng ở Thủ đô. Tôi viết, gửi Ban Bạn đọc và Yên Thao sử dụng ngay sau đó một ngày. Nhưng đắt nhất của mấy trăm từ này là hai câu lục bát mà ông "chua' thêm ở phần cuối: "Chuyện tào lao chẳng tào lao/ Không thi chung kết mà vào final".

Ông bảo: "Sức nặng của mục này và sự "ăn nhau" của mục này có khi nằm ở sau mấy từ "Vậy có thơ rằng…" đấy".

Tôi nhớ có lần biết tin dân đi du lịch vào ngày nghỉ thường bị "chặt", "chém" thường xuyên ở một số nhà khách, khách sạn với giá "cắt cổ", lập tức Yên Thao "sản xuất" ngay mấy câu đặc sệt chất Bút Tre:

Không đi không biết Tam Đao (Tam Đảo)
Đi thì không biết chỗ nào mà ngu (ngủ)
Một giường nhét đủ hai cu (cụ)
Đêm nằm tính toán đến chu (chủ) nhật về.

Lại có lần như để trêu chọc cái tinh thần thi đấu của thể dục thể thao nước nhà, vì không giành được thành tích mấy, nên lúc nào những người trong cuộc cũng nhấn mạnh "đi là để thử sức, để học tập", Yên Thao liền cho "ra lò" mấy câu rất vui và cũng rất kịp thời:

A-si-át… A-si-a
Ta phá kỷ lục của ta thì tài
Mang quân thi đấu nước ngoài
Thắm tình hữu nghị…gặp ai cũng nhường
.

2. Nhà thơ Yên Thao là người cùng thời với Hồng Nguyên, Quang Dũng, Tất Vinh… Ông viết bài thơ "Nhà tôi" vào năm 1949 và đây là một bài thơ mang  chất lãng mạn thời kháng chiến chống Pháp.

Về hoàn cảnh ra đời của bài thơ, tác giả đã kể lại: "Năm 1949, tôi công tác văn nghệ tại Quân đội liên khu 3, theo một đơn vị đánh vào một đồn binh Pháp đồn trú cạnh sông ở một làng đồi. Trong lúc đợi chờ giờ nổ súng, tôi trò chuyện với anh em và được biết ở đơn vị này có một cậu quê ở ngay làng đồi đó.

Phía bên ấy đang còn mẹ và vợ. Cậu ta lấy vợ được chừng tháng thì chiến tranh bùng nổ. Chàng trai lên đường đi kháng chiến, chia tay người vợ trẻ.

Trong câu chuyện, mấy lần cậu ta nhắc tới giàn thiên lý của nhà mình. Tôi rất thích câu chuyện và viết nên bài thơ "Nhà Tôi". Có lẽ người viết đã hoà nhập được với người kể nên bài thơ được đông đảo anh em lính thuộc và nhanh chóng được phổ biến cả vào các chiến trường Nam Bộ. Không chỉ lính xuất thân từ nông thôn, cả những lính thành phố cũng tìm thấy thấp thoáng trong bài thơ những nét hợp với mình. Nhân đây, cũng xin nói thêm, có nhiều văn bản ghi nhầm câu "Nhà tôi ở cuối thôn Đồi" thành "Nhà tôi ở cuối thôn Đoài". Điều này không đúng với nguyên gốc bài thơ".

Sau đó khá lâu, nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác nhạc phẩm "Chuyện giàn thiên lý" lấy ý từ bài thơ "Nhà tôi" của thi sĩ Yên Thao. Bản nhạc cũng rất phổ biến cả ở trong và ngoài nước

Có thể nói, "Nhà tôi" là một bài thơ nặng chất tự sự, giàu cảm xúc và thuyết phục độc giả nhờ sự chân thành hiếm có. Thêm nữa, nó có cách diễn đạt dân dã, bình dị hợp với đời sống nói chung và đời sống chiến sĩ ở thời điểm ra đời. Ngay ở phần đầu bài, những nét tạm coi là đại để ấy đã bộc lộ: "Tôi đứng bên này sông/ Bên kia vùng giặc đóng/ Làng tôi đấy, sạm đen màu tiết đọng/ Tre, cau buồn rũ ướt mưa sương/ Màu trắng vôi lồm lộp mấy khung tường/ Nếp đình xưa người hỡi, đau gì không?/ Tôi là anh lính chiến/ Rời quê hương từ dạo máu khơi dòng…".

Rồi tứ thơ được gói lại ở hai câu cuối rất gần với ca dao: "Nhà tôi ở cuối thôn Đồi/ Có giàn Thiên lý, có người tôi thương". Thêm nữa, "Làng tôi" có một chi tiết ngồ ngộ, tuy không thơ lắm nhưng lại gây ấn tượng, nằm ở mấy câu: "Này anh chiến sĩ/ Người bạn pháo binh/ Ðã đến giờ chưa nhỉ?/ Mà tôi nghe như trại giặc tan tành/ Anh rót cho khéo nhé!/ Không lại nhầm nhà tôi". Đó là nỗi lo lắng có thực, rất riêng tư, vì "nhà tôi" đang ở trong vùng địch tạm chiếm đóng và trong tầm pháo của "người bạn pháo binh".

Cũng trong khoảng thời gian này, ông còn có bài thơ được nhiều người nhớ là "Giọt lệ màu nâu". Duyên cớ ra đời có lẽ bắt đầu bằng: "Năm trước hành quân qua Phú Thọ/ Gặp em Hà Nội tản cư về/ Phố nhỏ Thanh Cù đêm ngủ đỗ/ Để rồi thương mãi quán cà phê".

Và sau bốn câu ngổn ngang tâm sự: "Thơ viết đầy trang chẳng gởi ai/ Mùa mưa biên giới suốt đêm ngày/ Mưa về đồi Cọ qua đèo Gió/ Ở đấy chừng mưa có giống đây?" là hai câu vui đời lính kháng chiến: "Vui khoác ba lô bước mã hồi/ Đường thu vàng ngập lá vàng rơi…". Rồi như len vào đó là cái tâm trạng nhớ thương không dứt: "Gọi tách cà phê ngồi nhắc nhau/ Nghe từng giọt lệ nhỏ men nâu". Ở thời điểm ấy, có một bài thơ hơi riêng tư như vậy, kể cũng hiếm!

Đến năm 1950, "Nhà tôi", "Giọt lệ màu nâu"  cùng một số bài thơ trữ tình khác của Yên Thao đã được in trong tập "Thép son" qua Nhà xuất bản Vệ quốc quân năm 1950.

   Từ sau thời kỳ hòa bình và cho đến lúc nghỉ hưu, Yên Thao hầu như chỉ tập trung làm thơ trào phúng với bút danh Cử Yên. Ông bộc bạch: "Riêng về thơ trào phúng, tôi tán thành ý kiến của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ: Phải dí dỏm, phải biết chơi chữ". Ông có một thời gian dài là Chủ nhiệm CLB thơ trào phúng Hà Nội thuộc Hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội và từng có tác phẩm đoạt nhiều giải A về đề tài nếp sống mới, sinh đẻ có kế hoạch của Thủ đô.

3.  Yên Thao tên thật là Nguyễn Bảo Thịnh. Ông sinh năm 1927, là người Hà Nội gốc. Từ 1946 đến 1953, ông có thời gian dài là phóng viên của các báo: Chiến đấu Quân khu 2, Quân Bạch Đằng, Liên khu 3…Từ 1957 đến 1991, ông là phóng viên, Trưởng ban Văn hóa - xã hội, Trưởng ban Bạn đọc Báo Hà Nội mới.

Ông gia nhập Hội Nhà văn Việt Nam rất muộn. Mãi đến năm 75 tuổi (2002), ông mới trở thành tân hội viên. Tôi nhớ trong ngày vui này, nhà thơ Hữu Thỉnh đã đánh giá cao những nỗ lực, đóng góp của Yên Thao trong mảng thơ trào phúng.

 Tuần trước, tôi có ghé thăm ông ở 78 phố Huế (Hà Nội). Tuy đã không đi lại được nữa, nhưng chất hài hước trong ông vẫn không thuyên giảm. Ông bảo: "Cái nhà này - nơi gia đình tôi đang ở, đã bị thất bát (chơi chữ từ 7 - thất và 8 - bát)  từ lâu. Mãi đến năm 2000 mới "thu hồi" được đấy. Bây giờ, vợ chồng già nhà này sống chủ yếu từ nguồn thu cho thuê nhà". Rồi ông nheo mắt và nói giọng dí dỏm hơn khi chỉ tay về phía bà xã: "Tôi đang nằm cạnh hai cái còng đấy!". Sợ tôi chưa hiểu ra, ông giải thích thêm: "Hai cái còng số 8 hẳn hoi, vì vợ tôi năm nay 88 tuổi mà!".

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.