Nhà thơ Phạm Đình Ân với những “Chuyện kế muộn”

Còn nhớ, vào năm 1973, tôi được nhà thơ Đỗ Quang Hưng dẫn đến làm quen với Phạm Đình Ân tại Báo Nhân dân. Khi ấy tôi ngưỡng mộ anh với câu chuyện anh đã đi xe đạp từ Hà Nội vào Vĩnh Linh trong chuyến thâm nhập thực tế để sáng tác nên bài thơ "Đi dọc miền Trung" (in trên Tạp chí Tác phẩm mới của Hội Nhà văn Việt Nam). Từ đó chúng tôi trở thành bạn suốt 45 năm qua...

Bảo vệ Tiến sĩ văn học ở tuổi 61

Sau 10 năm làm việc ở Báo Nhân dân, anh chuyển sang Báo Văn nghệ, biên chế vào Ban Văn xuôi. Năm 1980, Phạm Đình Ân đã "xếp hàng" tập thơ đầu tiên của mình ở NXB Tác phẩm mới, chờ kế hoạch in. Vậy mà mãi 10 năm sau, khi cơ chế thị trường phát triển, không còn chế độ in bao cấp như trước nữa, Phạm Đình Ân đã phải bỏ tiền ra in (1990). Lần này anh in liền hai tập "Nắng xối đỉnh đầu" (NXB Hội Nhà văn) và "Những hoàng hôn ngẫu nhiên" (NXB Phụ nữ).

Vậy đó, phải mất 18 năm sau, bài thơ "Đi dọc miền Trung" nổi tiếng mới được in vào tập thơ đầu tiên. Cho dù hơi bị muộn ở tuổi 45, nhưng phải nói tập thơ đầu tiên này, Phạm Đình Ân có những bài thơ độc đáo với tứ mới lạ như "Sợi tóc", "Giấc mơ", "Những cái giật mình", "Cơn gió", hoặc như "Đồng hồ thu thảo", "Một cô gái khác", "Những hoàng hôn ngẫu nhiên"…

Thật bất ngờ, 10 năm sau, anh cho in lại hai tập thơ này với lý do sách lần trước... in xấu và trình bày kém, chữ mờ, giấy đen. Chính vì thế đến năm 2001, hai văn bản thơ mới của Phạm Đình Ân hiện diện với bạn đọc như một sự khẳng định thêm một lần nữa, với những chùm thơ hay về thế sự và tình yêu. Quả nhiên, sau đó dư luận sôi nổi bàn luận về hai tập thơ này.

Anh được nhận mấy giải thưởng về chùm thơ hay trên báo và giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam kết hợp với Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Lại có chuyện, trong thời gian làm việc ở Báo Văn nghệ, anh gắn bó với mục "Dọn vườn" cũng dễ đến 10 năm. Cho dù anh là Trưởng ban Lý luận phê bình của báo từ năm 1997, nhưng đây là mục cũng đòi hỏi phải đọc nhiều, hiểu kỹ mới đảm đương được.

Anh tổ chức viết bài, biên tập hay "dọn vườn" trực tiếp, luôn thể hiện sự hóm hỉnh sinh động và hấp dẫn bạn đọc. Anh còn cho biết, mình đã nghĩ ra tới mươi chuyện mục khác nhau cho báo, chung quanh chuyện nghề và tiểu phẩm… với mục đích hấp dẫn bạn đọc.

Phạm Đình Ân và ìa một số tác phẩm dành cho thiếu nhi của ông.
Phạm Đình Ân và ìa một số tác phẩm dành cho thiếu nhi của ông.

Và, nhân dịp "buôn chuyện", Phạm Đình Ân còn cho biết anh cũng phải mất 10 năm chuẩn bị thi, học và bảo vệ luận án Tiến sĩ văn học. Hỏi vì sao lại phải mất tới 10 năm, anh nói toẹt thi trượt ngoại ngữ lần đầu chứ sao. Nói rồi anh cười, sau cũng cố "leo núi" cho đến khi bảo vệ luận văn xuất sắc, với điểm tối ưu về đề tài: "Thế Lữ trong tiến trình văn học Việt Nam hiện đại" - năm 2007. Lúc này Phạm Đình Ân đã bước sang tuổi 61. Tâm sự đến đây, anh tặc lưỡi: "Ôi dào! Đời người được mấy mươi năm. Muốn làm được việc gì thì cố thôi". 

Bước ngoặt đường thơ

Về hưu (năm 2010), nhưng anh vẫn viết báo và sáng tác đều ở cả hai lĩnh vực thơ trữ tình và thơ cho các em. Nếu nói chính xác, anh thường làm thơ cho lứa tuổi nhi đồng. Ngay từ thời còn làm việc ở Báo Nhân dân, anh đã in thơ chung tập với hai tác giả khác từ năm 1978.

Đó là tập thơ thiếu nhi "Chim khen bé ngoan" (NXB Thanh Hóa). Mãi cho đến năm 1996, anh mới in tập thơ thiếu nhi riêng đầu tiên "Tắc kè hoa" (NXB Kim Đồng 1996). Dường như cũng một thời gian dài anh tập trung viết cho thiếu nhi, nhưng cũng phải 10 năm sau anh mới in tập thứ hai "Đất đi chơi biển" (NXB Văn hóa, 2007). Sự xuất hiện tập thơ thứ hai này của Phạm Đình Ân đã được bạn đọc hồ hởi đón nhận. Đặc biệt là hiệu ứng của tập thơ khá kỳ lạ.

Có tới mấy vụ đạo thơ của bạn đọc từ tập thơ này. Đó là những bài thơ anh viết về Trường Sa. Anh vui vẻ kể, riêng bài thơ "Quà của bố" (từng được in vào sách giáo khoa) đã bị một người chép lại gửi ra ngoài đảo, với bút danh khác hẳn. Sau đó bài thơ được đăng lên báo tường của đơn vị. Trong một chuyến đi ra đảo, có nhà báo đã chép lại đưa về in trên báo mình. Khi ấy mọi người mới xôn xao về một vụ đạo thơ. Bởi nhiều người đã từng thuộc bài thơ này của Phạm Đình Ân.

Biết vậy, nhà thơ Phạm Đình Ân chỉ im lặng cười, không lấy đó làm phiền lòng hay đi thưa kiện, hoặc đòi hỏi trả lại cho mình quyền lợi gì. Trong lòng anh chỉ có một niềm vui rằng, thơ đến với bạn đọc là quý lắm rồi, chẳng cần phải rạch ròi làm gì. Thêm một vết gợn cho bạn đọc cũng đem sự phiền muộn mà thôi.

Và, đặc biệt chỉ 7 năm sau, anh được in liền hai tập thơ, một cho thiếu nhi: "Cao nguyên đá" (NXB Kim Đồng, 2014); và một cho mảng thế sự: "Vòng quay" (NXB Hội Nhà văn, 2014). Nếu tập "Cao nguyên đá" có  số lượng in lớn, tới 31.000 bản thì tập thơ thế sự "Vòng quay" lại gây dư luận khá sôi nổi, với các thi phẩm như "Chuyện kể muộn", "Đầu năm mua muối", "Lạc nhà", hay "Vòng quay", "Mặt mình", "Phóng sinh"…

Thơ anh đã khác hẳn với một nhịp 10 năm trước. Không còn "Những cái giật mình" thuở nào, mà nhân tình thế thái được chia sẻ sâu nặng hơn. Và, giờ đây người đọc đã phải "giật mình" vì sự chuyển động mới trong thơ anh. Đó là màu sắc ảo diệu, gây ấn tượng bất ngờ, với những tứ thơ lạ. Đâu đó ta lại gặp "Thắt buộc vào nhân thế/Muôn mặt đời dại khôn/ Còn cái còn mà mất/ Mất cái mất lại còn" (Người trong ảnh), hoặc "Rắc muối vào vô cảm/ Rắc muối vào vô can/ Xót tan lòng muối xát/ Hạt đổ vào vết thương" (Đầu năm mua muối); và đây nữa "Dại gì làm kiếp người/ Sống làm người khó quá" (Phóng sinh)…

Những câu thơ nóng hổi thế sự, mang tính phản biện cao xuất hiện trong thơ anh mỗi lúc một nhiều. Đó là những đột biến của 10 năm gần đây, với giọng điệu trầm buồn và không kém phần xao xác nỗi suy tư. 

Những niềm vui màu hồng

Tôi thêm một lần ngạc nhiên vì bản tính chất phác và tinh tế của nhà thơ Phạm Đình Ân; khi anh bất chợt đưa cho tôi xem bộ sưu tập gồm hàng trăm ảnh chân dung các nhà văn nhà thơ được lưu giữ hơn 40 năm qua. Tôi bồi hồi ngắm lại những chân dung người thầy và các anh chị mà tôi đã từng tiếp xúc như nhà văn Tô Hoài, Kim Lân, Nguyễn Đình Thi, Phạm Hổ, Xuân Quỳnh, Bằng Việt…Còn nữa, bên cạnh đó là bút tích của những nhà văn quá cố nổi tiếng mà nhà thơ Phạm Đình Ân đã gìn giữ thông qua công việc và giao lưu bài vở. Đây là những tư liệu quý không mấy ai có.

Nhưng vẫn chưa hết, tôi thực sự thú vị và thán phục nhà thơ, khi anh còn trong tay mấy chồng thiếp mời đám cưới của bạn bè, bà con và đồng nghiệp. Không chỉ những thiếp anh được mời mà còn của những người khác mà anh đã cất công sưu tập được. Tất cả đều màu đỏ hồng tạo nên sự ấm áp của tình thân mỗi khi giở ra xem. Biết bao kỷ niệm ùa về với nhà thơ.

Tôi đoan chắc từ đây có những tứ thơ ra đời. Bởi lẽ đó là tấm lòng nặng trĩu tình cảm trong anh. Có lẽ thế chăng, tôi chợt nhớ đến bài thơ "Sợi tóc" của anh. Hình ảnh một kỷ vật "sợi tóc" được nhà thơ sáng tạo: "Em đã tặng tôi sợi tóc của em/ Rồi ngày tháng vèo trôi, em không nhớ nữa". Sau nửa thế kỷ, chàng trai năm xưa tìm về đã tặng lại người yêu khi tóc đã bạc trắng. Thơ viết: "Năm mươi năm sau/ Khi tìm được về chốn cũ/ Tôi gặp một bà già tóc bạc/ Bà chẳng biết tôi/ Tôi tặng bà sợi tóc/ Bà khóc/ Sợi tóc vẫn còn đen".

Một tứ thơ hay và độc đáo. Với những thiếp hồng cũng vậy. Tôi ước đến một ngày nào đó, mọi ký ức tươi sáng tràn về và những thi phẩm mới của Phạm Đình Ân sẽ đến với bạn đọc như một tri ân đẹp mà mọi người vẫn chờ đợi từ thơ anh.

Nhà thơ Phạm Đình Ân sinh năm 1946 tại Hà Nam. Ông tốt nghiệp Đại học Tổng hợp khoa Văn (1969), được chọn về Báo Nhân dân làm việc (1970). Mười năm sau, ông chuyển sang Báo Văn Nghệ. Đến năm 1997 được đề bạt Trưởng ban Lý luận Phê bình. Ông đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ văn học (2007). Về hưu năm 2010. Nhà thơ Phạm Đình Ân có 16 tập sách, trong đó có 4 tập thơ thiếu nhi và 5 tập thơ về tình yêu và thế sự. Nhà thơ đã được một số giải thưởng về thơ thiếu nhi và giải thưởng chùm thơ in trên báo Văn nghệ…
Vương Tâm

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.