Nhà thơ Ngọc Anh: Người “khai sinh” cây Kơ-nia

Trong nền văn học Việt Nam nửa sau thế kỷ XX diễn ra một hiện tượng khá kỳ lạ, ấy là một số nhà thơ khi công bố tác phẩm của mình không “thừa nhận” đứa con tinh thần chính thức mà lại ghi là “dịch”. Trong đó có nhà thơ - liệt sĩ Ngọc Anh, tác giả bài thơ nổi tiếng "Bóng cây Kơ-nia" được nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc.

Từ những năm đất nước còn bị chia cắt, nếu như ở Việt Bắc có hiện tượng nhà thơ Cầm Giang khi công bố các bài thơ của mình lại ghi phía dưới là sưu tầm, dịch từ tiếng Thái ra tiếng Kinh, như "Em tắm" ký tên tác giả là Bạc Văn Ùi, "Nhớ vợ" với tên tác giả là Cầm Vĩnh Ui, thì ở Tây Nguyên giữa khói lửa chiến tranh chống Mỹ có nhà thơ Ngọc Anh luôn ghi dưới các bài thơ do mình sáng tác khi cho đăng tải trên báo chí là phỏng dịch như: "Chiếc khăn thêu", "Cheo Reo", "Thương Cụ Hồ thương Đảng",… và đặc biệt là "Bóng cây Kơ-nia"  ghi là "phỏng dịch từ tiếng Hrê”.

Buổi sáng em lên rẫy/Thấy bóng cây Kơ-nia/Bóng ngả che ngực em/Về nhớ anh không ngủ/Buổi chiều mẹ lên rẫy/Thấy bóng cây Kơ-nia/Bóng tròn che lưng mẹ/Về nhớ anh mẹ khóc...

Giống như các nhà văn Thu Bồn, Nguyên Ngọc, Nguyễn Chí Trung hay các nhạc sĩ Nhật Lai, Phan Huỳnh Điểu, Trương Đình Quang,… nhà thơ Ngọc Anh sớm gắn bó mật thiết với Tây Nguyên trong những năm tháng ác liệt để chiến đấu, sáng tác, và ông cũng đã anh dũng ngã xuống thầm lặng trên mảnh đất này ngay dưới chân núi thiêng Ngọc Linh.

Nhà thơ - liệt sĩ Ngọc Anh cùng vợ và 2 con.
Nhà thơ - liệt sĩ Ngọc Anh cùng vợ và 2 con.

Nhà thơ liệt sĩ Ngọc Anh đã trở thành một trong những văn nghệ sĩ tiêu biểu làm giàu có thêm nền văn học, văn hoá Tây Nguyên bằng tài năng, tình yêu và sinh mệnh cuộc đời ngắn ngủi của mình. Không chỉ "Bóng cây Kơ-nia" mà nhiều bài thơ khác của Ngọc Anh cũng thể hiện điều ấy khi ông nhìn ra vẻ đẹp sâu thẳm của Tây Nguyên: “Cheo Reo quê mình/ Có nhiều núi rừng/ Có sông có suối/ Có làng có rẫy/ Nơi mẹ đi hái củi/ Nơi cha xây làng” và giữa phong cảnh sơn thuỷ hữu tình ấy người dân sống yên vui với công việc thường ngày từ ngàn xưa:

Trưa về ngồi kéo sợi/Dưới bóng mát nhà rông/Sợi dài hơn mây núi/Trắng ngỡ thác đầu buôn…

Nhà thơ Ngọc Anh họ Nguyễn, sinh năm 1934 ở xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc, tỉnh Quảng Nam. Từ thời kháng chiến chống Pháp, ông gia nhập thiếu sinh quân, học trung học quân sự ở Khu V, lên Tây Nguyên làm phóng viên mặt trận kết hợp đánh giặc, sản xuất, xâm nhập vào buôn làng đồng bào các dân tộc thiểu số làm công tác tuyên truyền dân vận.

Thời gian này Ngọc Anh cũng âm thầm tìm hiểu tư liệu về ông Mết, một chỉ huy du kích người Raglai có nhiều chiến tích nổi bật ở làng Xóp Dùi thuộc tỉnh Kon Tum, tương tự anh hùng Núp ở làng kháng chiến Stơr của tỉnh Gia Lai.

Miền Bắc giải phóng, nhà thơ Ngọc Anh tập kết ra Hà Nội cuối năm 1954. Nhờ vốn sống và hiểu biết về Tây Nguyên, ông được phân công về Ban Dân tộc Trung ương, rồi chuyển sang phụ trách mảng văn học miền núi của Viện Văn học. Đến năm 1964, ông trở vào chiến trường Tây Nguyên, xung phong chọn một nơi xa xôi hẻo lánh là tỉnh Kon Tum để tiếp tục làm công tác văn hoá, sáng tác, nghiên cứu dân ca các dân tộc và huấn luyện văn công biểu diễn. Tình yêu của ông với Tây Nguyên luôn day dứt như lời thơ ông viết trong hoàn cảnh địch lùa người dân rời khỏi buôn làng vào các khu đồn để dễ bề kiểm soát. Nỗi nhớ rẫy nhớ làng của bà con người dân tộc cũng chính là nỗi nhớ của Ngọc Anh khi rời xa:

Đất ông bà/Ta nhớ ta thương/Nhớ rẫy cũ làng xưa/Nhớ mùa gặt mới/Nhớ tiếng trâu ngoài làng/Tiếng voi đằng xa/Và tiếng chim ăn hoa buổi sáng.

Nhà thơ Ngọc Anh chọn Kon Tum hẻo lánh là còn mong muốn tiếp tục tìm hiểu kỹ hơn về ông Mết và làng Xóp Dùi anh hùng trong kháng chiến chống Pháp, nhằm hoàn tất tập truyện mà ông ấp ủ từ hơn mười năm trước. Thế nhưng giấc mơ sáng tạo đầy tâm huyết ấy của nhà thơ Ngọc Anh không thành khi ông bất ngờ nằm xuống dưới bóng những cây Kơ-nia bên chân núi thiêng Ngọc Linh, mà theo nhà thơ Thanh Quế: “Bao giờ ông cũng muốn làm được một cái gì đó cho ra tấm ra món và thực chất là Tây Nguyên.

Nhiều bạn bè quen biết ông ở Khu - lúc này đang chuẩn bị ra tờ tạp chí Văn nghệ Quân Giải phóng Khu V - muốn xin ông về Khu công tác, ở căn cứ Khu an toàn hơn, có điều kiện bồi dưỡng sức khoẻ và năng lực của ông hơn nhưng ông vẫn ở lại Tây Nguyên - nơi có những thảo nguyên mênh mông, có những cây Kơ-nia trùm bóng mát xuống buôn làng và Ngọc Anh đã lặng lẽ ngã xuống vào ngày 15-10-1965 bên những cây Kơ-nia mà ông yêu mến đó”.

Bây giờ thì hài cốt của nhà thơ Ngọc Anh đã được gia đình ông chuyển về yên nghỉ tại nghĩa trang liệt sĩ ở huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam quê hương, nhưng có lẽ linh hồn ông vẫn mãi quấn quít với núi rừng mà ông gắn bó mật thiết. Mỗi lần có dịp lên Tây Nguyên, ngắm nhìn những cây Kơ-nia sừng sững và hòn Ngọc Linh hùng vĩ, tôi luôn nhớ tới nhà thơ Ngọc Anh, con người tài hoa đã tôn thêm vẻ đẹp và sự thiêng liêng cho loài cây và ngọn núi huyền thoại này.

Và chính những câu chuyện ly kỳ, bi thương xoay quanh số phận nhà thơ Ngọc Anh cũng là những huyền thoại sẽ mãi còn lại với ngọn núi Ngọc Linh, với Tây Nguyên, đặc biệt với tư cách người “khai sinh” chính thức cây Kơ-nia bằng những vần thơ bất tử, biến loài cây bình thường ấy thành một huyền thoại.

Đúng như lời thốt ra tận đáy lòng của người bạn thơ Thanh Quế của ông: “Cây Kơ-nia, cái cây còn có tên là cây Cầy, cây Cốc, cây đậu trướng vô danh kia đã được nhà thơ thổi tâm hồn mình vào thành một cây sừng sững của núi rừng Tây Nguyên yêu dấu ngàn đời, được nhân loại biết đến. Phải chăng Ngọc Anh đã sinh ra cây Kơ-nia kia?”.

Huỳnh Phan

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.