Nhà thơ Hoài Vũ: Sau những bài thơ là những bóng hồng

Vào Sài Gòn, hay tin vợ nhà thơ Hoài Vũ bất ngờ phải đi bệnh viện cấp cứu, tôi thấy buồn và nghĩ: Biết đâu, mình đã bị lỡ một cơ hội gặp ông? Nhưng rồi thì mọi chuyện cũng êm. Sau khi vợ ông được đưa về điều trị tại gia, Hoài Vũ cho tôi một cái hẹn. Và tôi coi đây là một cơ may.

1. Tôi nhớ Hoài Vũ qua nhiều bài thơ của ông là ca từ trong nhiều ca khúc nổi tiếng của nhiều nhạc sĩ danh tiếng như Trương Quang Lục, Phan Huỳnh Điểu, Thuận Yến… Đó là “Vàm Cỏ Đông”, “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Đi trong hương tràm”, “Chia tay hoàng hôn”… Trong đó, tên hai bài thơ: “Vàm Cỏ Đông” và “Đi trong hương tràm” cùng tên với hai ca khúc, còn “Miền hạ” được đổi thành “Anh ở đầu sông em cuối sông”, “Hoàng hôn lặng lẽ” được đổi thành “Chia tay hoàng hôn”. Riêng “Chia tay hoàng hôn”, phải gặp được Hoài Vũ, tôi mới hay: Ông là tác giả phần ca từ.

Trong ca khúc nói chung, nhất là khi đã đồng tác giả, có lắm khi tên của nhạc sĩ lấn át tên của thi sĩ, là thế. Hoặc giả cũng có trường hợp: Hát riết, giới thiệu riết trên báo nói và báo hình, có thể do phần lười biếng hoặc xao nhãng nào đó, người ta quên luôn tên người là cha đẻ của ca từ.

Nhân đây, cũng xin nhắc đến một chuyện vui vui. Cách nay dăm bảy năm, có một lần tôi tham dự một trại sáng tác ở Cao Bằng. Khi xuống giao lưu với học sinh ở một trường trung học phổ thông, cho dù trong đoàn có nhiều nhà văn, nhà thơ có tiếng, nhưng các em chỉ nhớ “Hương thầm” của nhà thơ Phan Thị Thanh Nhàn và “Dòng sông phẳng lặng” của nhà văn Tô Nhuận Vỹ.

Hỏi: Tại sao vậy? Một số em trả lời: Vì chúng cháu nghe ca khúc này trên đài và xem phim này trên truyền hình. Vậy là cái phần “nghe”, phần “xem” có tác động hơn hẳn phần “đọc”. Và sở dĩ các em còn nhớ được là vì hai tác phẩm này, một đã lên nhạc và một đã lên phim. Nêu thế để thấy cái ưu thế bề nổi, bề mặt đương nhiên của âm nhạc và điện ảnh trước văn chương.

Trở lại với bốn bài thơ đã nêu trên của Hoài Vũ. Ngay từ thuở thiếu thời và cho đến khi đã nhiều tuổi, tôi vẫn cảm nhận được sự rung động xốn xang, sự xúc động lắng sâu đầy tâm cảm từ chúng.

Mà không rung động, xúc động sao được sau mỗi lần đọc: "Ở tận sông Hồng em có biết/ Quê hương anh cũng có dòng sông/ Anh mãi gọi với lòng tha thiết? Vàm Cỏ Đông ơi Vàm Cỏ Đông"; "Anh ở đầu sông em cuối sông/ Uống chung dòng nước Vàm Cỏ Đông/ Thương nhau đã chín bao mùa lúa/ Chưa ngày gặp lại, nhớ mênh mông"; "Gió Tháp Mười đã thổi, thổi rất sâu/ Có nỗi thương đau, có niềm hy vọng/ Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/ Hương tràm bên anh mà em đi đâu?"; "Anh phải về thôi, xa em thôi!/ Ngoài kia phiên chợ vãn lâu rồi/ Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc/ Mà lời từ biệt chẳng lên môi…".

 Thơ ấy là thơ của một người lấy cảm xúc chân thành làm thế mạnh và cũng nhờ thế mà những cảm xúc chân thành được thăng hoa một cách tự nhiên. Thơ ấy cũng là thơ của một người không làm dáng, làm điệu và không màu mè, vô hình trung đã rút ngắn đến không còn khoảng cách khi trái tim đến với trái tim.

2. Hoài Vũ nói rằng: Nhiều thi phẩm của ông đều có và đều thấp thoáng những bóng hồng. Hay nói cách khác: Hầu hết thi phẩm của ông đều có gốc gác từ những  bóng hồng ở các không gian khác nhau, hoàn cảnh cụ thể khác nhau.

Ông kể: “Trước năm 1968, đang trên đường đi công tác thì bị địch bất ngờ tập kích. Có hai chiến sĩ bảo vệ hy sinh, còn mình tôi thoát chết. Bị dồn vào đường cùng, tôi liều chạy vô một ấp chiến lược. Từ trong bụi ô rô chui ra, tôi hét to: “Có nghe tiếng súng nổ không? Tôi là người trong cuộc đây! Mong được cứu giúp!”. Rồi tôi được hai người con gái, một tên Duyên, một tên Hạnh che chở, cưu mang một đêm một ngày.

Chỉ sau này tôi mới biết cả Duyên và Hạnh đều là du kích nằm vùng, là đồng chí của mình. Khi chia tay, tôi đã gửi sự tri ân của mình bằng bài thơ “Hoàng hôn lặng lẽ”, trong đó có hai câu: "Giọt nắng cuối ngày rơi xuống tóc/ Mà lời từ biệt chẳng lên môi". Sau này, tôi đã viết lại chuyện này khá kỹ trong hồi ký “Kỷ niệm thức dậy” đấy”.

Ông kể: “Năm 1968, khi theo đại quân vào Sài Gòn, không may tôi bị sốt rét, đành phải nằm lại Trạm giao liên Đồng Tháp Mười. Tại đây, tôi đã gặp 5 – 6 nữ giao liên. Tôi đặc biệt có cảm tình với một cô tên là Lan. Đến năm 1971, khi tôi quay lại thì cả rừng tràm đã xác xơ vì bom đạn tàn phá và rất buồn khi biết tin Lan đã hy sinh. Một đêm, cảm xúc đau xót và mất mát ùa ra, tôi viết ngay được bài thơ “Đi trong hương tràm”, trong đó có hai câu: "Bầu trời thì cao, cánh đồng thì rộng/ Hương tràm bên anh mà em đi đâu?".

 Ông kể: “Hồi ở R., năm 1969, tôi mê một nữ đồng đội có đôi mắt đẹp đến hút hồn và hằng ngày, chỉ nhìn thấy dấu chân của em thôi, đã thấy nhớ. Có lúc tôi đã thầm ghen với đất. Rồi tôi viết rất nhanh bài “Nhớ” với tình cảm thật trong niềm si mê vụng dại, trong đó có mấy câu: "Đất vui nhiều lắm đất/ Nhớ chia ta một lần/ Để tim này như đất/ Đường in lên bàn chân…/ Đất ấm tình người xới/ Mà dấu chân em đâu?".

Sau khi nhận được bài thơ tôi tặng, theo lời nữ nhà thơ Lê Giang, người ấy đã “trùm mền, đọc thơ và khóc cả đêm”. Sau đó, cổ bị địch bắt, bị đi đày tận Côn Đảo, mà sau 1975 gặp lại, vẫn giữ bản thảo bài thơ đã úa vàng như là kỷ niệm của tôi một thuở”.

Ông kể: “Cách nay hai thập kỷ, tôi có bài thơ “Người đẹp Hàng Châu” đăng trên Tạp chí Văn nghệ Chiết Giang (Trung Quốc). “Người đẹp Hàng Châu” ra đời từ một “thi cảnh” hết sức bất ngờ. Bữa ấy, khi đi tàu hỏa từ Thượng Hải đến Hàng Châu, tôi may mắn được ngồi cạnh một người đẹp. Tự nhiên tôi thấy “đã” và như cảm được vẻ đẹp lộng lẫy của một người xa lạ.

Sau khi về nước, chúng tôi đã liên lạc với nhau qua thư từ. Có lần, khi đi tháp tùng phái đoàn thăm và làm việc tại Trung Quốc của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Võ Trần Chí, y hẹn, tôi đã gặp lại cô ấy ở Hàng Châu và chúng tôi đã coi nhau như hai người bạn có “duyên kỳ ngộ” với nhau”.

Còn những chuyện liên quan đến bóng hồng thông qua thơ của Hoài Vũ, cũng không thiếu. Trong lúc trò chuyện với tôi, ông nhắc đến một cô gái dạy văn ở một trường học phổ thông Xứ Thanh mê hát bài “Vàm Cỏ Đông” đến nỗi đồng nghiệp toàn gọi cô là “cô Vàm Cỏ Đông” như một biệt danh. Sau 1975, “cô Vàm Cỏ Đông” có vào tận Sài Gòn tìm Hoài Vũ.

3. Hoài Vũ tập kết ra Bắc từ năm 1954 khi 18 tuổi. Ông từng khai thêm một tuổi để đủ tuổi đi du học Bắc Kinh và đến năm 1962 thì về nước. Đầu năm 1963, ông cùng những văn nghệ sĩ: Trần Đình Vân, Ngô Y Linh, Kim Chi, Hồng Sến, Thái Ly… vào chiến trường B để tham gia hoạt động văn học tại chiến trường miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ.

Ông từng làm việc ở nhiều nơi: Nhà xuất bản Tác phẩm mới, Báo Nhân dân, Đài Phát thanh giải phóng, Báo Văn nghệ giải phóng, Báo Văn nghệ, Báo Sài Gòn giải phóng… Ông từng là Tổng biên tập Báo Văn nghệ giải phóng, Phó Tổng biên tập Sài Gòn giải phóng, Tổng biên tập Tạp chí Nhịp sống Sài Gòn, Trưởng đại diện đầu tiên của Báo Văn nghệ tại TP Hồ Chí Minh. Có dạo, ông là trợ lý của Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh Võ Trần Chí, là Ủy viên BCH Hội Nhà văn TP Hồ Chí Minh.

Hoài Vũ sinh năm 1935, tên khai sinh là Nguyễn Đình Vọng, người quê gốc Quảng Ngãi. Ông chọn Sài Gòn là quê hương thứ hai đã trên 40 năm nay. Tính đến nay, ông đã xuất bản 6 tập thơ, 5 tập truyện và 6 tập truyện dịch từ các tác phẩm văn học Trung Quốc. Ở tuổi 82, Hoài Vũ vẫn hiền hòa, dễ mến, dễ gần gũi như những bài thơ của ông. Khi tiếp xúc, tôi cảm nhận được sự ấm áp, sự thân thiện từ cái bắt tay đến cái nhìn nơi ông.

Khi suy nghĩ về nghề văn, ông viết: “Tôi viết văn, làm thơ với niềm đam mê không bao giờ vơi cạn. Hạnh phúc lớn nhất đến với người cầm bút là dẫu năm tháng đi qua, người đọc vẫn nhớ đến tác phẩm của mình như nhớ đến một hình bóng thương yêu thoáng qua đời họ”.

Khi tôi hỏi: “Thế chú nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật khi nào?”. Hoài Vũ trả lời: “Đã nhận bao giờ đâu. Lâu lắm rồi, mình có một lần làm hồ sơ gửi ra ngoài ấy. Không thấy ai nhớ đến mình và mình cũng quên chuyện này từ lâu rồi”.

Khi tôi hỏi: “Vàm Cỏ Đông là ca khúc nổi tiếng thời chống Mỹ mà chú và nhạc sĩ Trương Quang Lục là đồng tác giả. Hẳn hai người phải gắn bó với nhau lắm?”, Hoài Vũ lắc đầu: “Ai cũng tưởng vậy mà không phải vậy. Bài thơ này của chú đăng trên Báo Văn nghệ khoảng cuối năm 1963 đầu năm 1964. Đến năm 1966 thì anh Trương Quang Lục phổ nhạc. Nghe đâu hồi ấy ảnh là kỹ sư ở Nhà máy Supe phốt phát gì đó và cũng là người đồng hương với mình. Từ đó đến nay, mình chưa có dịp nào được gặp ảnh. Thật tiếc!”. 

Đặng Huy Giang

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".