Người xưa học văn chương

Trong những điều tự xưng, tự nói về mình thì câu “Việt Nam là một nước có nền văn hiến”, theo thiển ý của tôi là hoàn toàn có cơ sở. Nguyễn Trãi cũng đã nói về điều này trong “Bình Ngô đại cáo”: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.

Nghiên cứu chuyện học hành, thi cử của người Việt từ xưa đủ chứng minh điều đó. Cách đây hơn một thiên niên kỷ, khi nhà Lý lên ngôi, quyết định dời kinh đô ra Thăng Long, các vua Lý đã tính đến chuyện xây một nền văn hiến, bởi chỉ có nền văn hiến mới giữ được nền độc lập tự chủ lâu bền, mới chống lại mưu toan đồng hóa, nô dịch của những nước lớn. Trong “Chiếu dời đô” của vị vua đầu triều Lý Thái Tổ đã thể hiện một tầm nhìn sâu rộng, ông gọi Thăng Long là “nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời”.

Thấm nhuần bốn chữ “Thượng đô kinh sư”, sang triều vua thứ ba, Lý Thánh Tông đã cho lập Văn Miếu để phụng thờ các vị tiên hiền đạo Nho, tôn vinh sự học. Sang đời vua thứ tư, vua Lý Nhân Tông, mặc dù là thời kỳ phải đối mặt với quân xâm lược nhà Tống, vua vẫn cho xây Quốc Tử Giám, kể từ đây nền giáo dục đại học nước Việt được khai sinh, tuy rằng trường Quốc Tử Giám thời đó chỉ mới ành cho các con em trong hoàng tộc đến học.

Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi linh thiêng thờ đạo học và vinh danh các nhà khoa bảng của cha ông ta.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám là nơi linh thiêng thờ đạo học và vinh danh các nhà khoa bảng của cha ông ta.

Sang thời Trần, vua đầu triều Trần Thái Tông đổi Quốc Tử Giám thành Quốc học viện và cho mở rộng để thu nhận cả con em các gia đình thường dân có sức học xuất sắc. Tại đây, chức năng trường Quốc học ngày càng nổi bật hơn chức năng của một nơi tế lễ. Sang đời vua Trần Minh Tông, Chu Văn An được cử làm quan Tư nghiệp Quốc Tử Giám, vừa làm quản lý (như chức Hiệu trưởng bây giờ) vừa trực tiếp dạy dỗ các hoàng tử và môn sinh.

Năm 1370, khi Chu Văn An mất, vua Trần Nghệ Tông cho lập khán thờ ở Văn Miếu bên cạnh Khổng Tử. Sang thời Hậu Lê, nho giáo rất thịnh hành. Sự học phát triển rực rỡ. Trong suốt chiều dài lịch sử, nền khoa bảng nước ta đã chứng kiến nhiều khoa thi và hình thức thi cử mỗi thời cũng có khác nhau, nhưng tựu trung nhất, người muốn được bổ dụng làm quan phải trải qua ba kì thì: thi Hương, thi Hội, thi Đình. Kỳ thi nào thí sinh cũng phải làm bài thi ám tả cổ văn, chép một đoạn trong Tứ thư, Ngũ kinh. Những sách này chứa đựng cả văn học, đạo đức học, luật học…

Nói như bây giờ, đó là sách thuộc khối Khoa học xã hội và nhân văn. Nhưng quan trọng nhất là bài thi sáng tác thơ Đường luật và bài văn sách luận về chiến lược xây dựng, cai quản và bảo vệ đất nước. Nếu không đạt một trong hai phần này là trượt.

Người đỗ đầu khoa thi Đình gọi là Đình nguyên hoặc Điện nguyên - danh hiệu vinh dự cho thủ khoa tiến sĩ. Tùy theo khoa thi Đình năm đó lấy đến học vị nào là cao nhất mà người ta gọi Đình nguyên Trạng nguyên, Đình nguyên Bảng nhãn, Đình nguyên Thám hoa hay Đình nguyên Hoàng giáp, thậm chí Đình nguyên Đồng tiến sĩ. Có nhiều thí sinh thi đỗ khoa thi này mà làm nên nghiệp lớn, mang lại danh thơm cho nước nhà, lưu tên tuổi cho hậu thế. Nhưng hiền tài xuất hiện nhiều hay ít còn phụ thuộc vào tầm nhìn và tài năng của đức vua triều ấy nữa.

Xin lấy một số sự kiện thời Lê Sơ làm ví dụ.

Nếu thủ lĩnh nghĩa quân Lam Sơn Lê Lợi không nhìn ra Nguyễn Trãi và thu nhận ông đi theo nghĩa quân tham gia kháng chiến chống giặc Minh, chỉ định đích thân Nguyễn Trãi viết “Bình Ngô đại cáo” thì trong di sản văn hiến Việt Nam sẽ không thể có những áng văn kiệt tác ấy. Ngược lại, nếu không có “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi thì cuộc kháng chiến chống giặc Minh khó có thể thắng lợi vẻ vang như thế. Ở đây, rõ ràng cả chủ tướng Lê Lợi và văn thần Nguyễn Trãi đều nhìn ra thứ vũ khí mềm mại nhưng vô cùng lợi hại, đó là văn chương.

Văn chương làm vũ khí tập hợp đoàn kết dân tộc, cổ vũ tinh thần tướng sĩ, làm bải hoải rã rời tinh thần quân giặc, đó chỉ là tác dụng trước mắt; còn tác dụng dài lâu chính là văn chương sẽ góp phần quan trọng làm nên nguyên khí quốc gia (theo cách nói của Thân Nhân Trung sau đó ít năm). Cái nguyên khí ấy mới làm nên diện mạo và cốt cách dân tộc.

Tư tưởng “Nước lấy dân làm gốc” đã được nhiều người, nhiều thế hệ hôm nay nhắc đi nhắc lại đến quen thuộc. Nhưng tư tưởng “Trị nước phải lấy nhân tài làm gốc” đã có từ lâu nhưng ít người biết tới. Trong hàng trăm bài văn sách thi Đình còn lại đến ngày nay, bài của Trạng nguyên Nguyễn Trực viết rất hay về ý tưởng này, nó quán xuyến suốt cuộc đời làm quan của ông sau này. Trong kì thi Đình năm 1469, vua Lê Thánh Tông phân công Nguyễn Trực làm chánh chủ khảo, ông đã phát hiện và chấm bài luận văn của Thân Nhân Trung đỗ tiến sĩ đầu khoa. Sau đó Thân Nhân Trung đã thể hiện được tài năng của mình khiến vua Lê Thánh Tông đặc biệt ngợi khen.

Ngày thơ Việt Nam tại Văn Miếu - Quốc Tử giám là nét đẹp trong đạo học và tôn vinh thi ca của dân tộc.
Ngày thơ Việt Nam tại Văn Miếu - Quốc Tử giám là nét đẹp trong đạo học và tôn vinh thi ca của dân tộc.

Để dẫn dắt công chúng đến với văn chương và vinh danh văn chương, vua Lê Thánh Tông cho lập Tao đàn nhị thập bát tú gồm 28 thành viên có thực tài do đích thân vua làm Đô súy (Tao đàn trưởng) và ngài đã bổ nhiệm Thân Nhân Trung làm Phó Đô súy. Để vinh danh hiền tài, Lê Thánh Tông thấy cần thiết phải dựng bia đá đề tên tiến sĩ, nói lên vai trò của hiền tài như một điều kiện quan trọng bậc nhất để làm nên sự hưng thịnh cho đất nước. Thân Nhân Trung, người giỏi văn nhất khoa thi Đình 1469, được vua sai soạn lời khắc lên tấm bia tiến sĩ đầu tiên. Tấm bia ghi danh những tiến sĩ khoa thi 1442.

Trong văn bia ấy, Thân Nhân Trung viết: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh và càng lớn lao, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà càng xuống thấp. Bởi vậy các bậc vua tài giỏi đời xưa, chẳng có đời nào lại không chăm lo nuôi dưỡng và đào tạo nhân tài bồi đắp thêm nguyên khí”.

Sau này, khi mà nhà Lê đã bước sang thời mạt, kể cả sang “vua Lê chúa Trịnh”  thì truyền thống coi hiền tài là gốc vẫn còn lan tỏa, vẫn xuất hiện những đại thần rất giỏi khoa học xã hội và nhân văn như Nguyễn Công Hãng, Phùng Khắc Khoan, Lê Quý Đôn, Nguyễn Bỉnh Khiêm…Văn chương đã bồi đắp, tôi rèn cho họ một bản lĩnh cao cường để họ hành xử xuất sắc trong những tình huống khó khăn. Chẳng hạn, triều vua Lê Thần Tông, có chuyện một lần đi sứ của Giang Văn Minh mà nhiều bộ sử còn ghi lại.

Giang Văn Minh làm Chánh sứ, đến Yên Kinh vào năm 1638. Chưa kịp bàn chuyện “quốc gia đại sự”, ông vua ngạo mạn Sùng Trinh đã ra một vế đối: "Đồng trụ chí kim đài dĩ lục". Nghĩa là: "Đồng trụ đến giờ rêu vẫn mọc". Câu này có hàm ý nhắc tới việc Mã Viện từng đàn áp cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, sau đó cho chôn một chiếc cột đồng với lời nguyền: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt" (Cột đồng gãy thì Giao Chỉ - tức Đại Việt - bị diệt vong).

 Giang Văn Minh liền dõng dạc đối lại bằng câu: "Đằng Giang tự cổ huyết do hồng". Nghĩa là: "Sông Bạch Đằng thủa trước máu còn loang đỏ". Vế đối này nhằm nhắc vua Sùng Trinh chuyện người phương Bắc đã ba lần mang quân sang xâm lược bị người Việt đánh cho tan tác trên sông Bạch Đằng máu hãy còn đỏ, hãy nhớ bài học vô cùng đắt giá ấy mà liệu đường ứng xử!

Sùng Trinh bừng bừng nổi giận, quên mất thể diện quốc gia, bất chấp luật lệ bang giao, đã ra lệnh đổ trám đường vào miệng và mắt Giang Văn Minh, rồi cho mổ bụng xem “bọn sứ thần An Nam to gan lớn mật đến đâu”. Khi thi hài Giang Văn Minh về đến Kinh thành Thăng Long, vua Lê Thần Tông bái kiến linh cữu, truy tặng chức Công bộ Tả thị lang, tước Vinh quận công, và ban tặng câu “Sứ bất nhục quân mệnh, khả vi thiên cổ anh hùng”. Nghĩa là "Sứ thần không làm nhục mệnh vua, xứng đáng là anh hùng thiên cổ".

Lê Hoài Nam

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.