Người vợ lặng lẽ của nhà văn Xuân Thiều

Mặc dù đã ở tuổi 86, song cứ mỗi bận nghĩ đến những câu thơ  của các cô gái trong làng trêu chọc bà năm xưa, bà lại cười  tủm tỉm "Một bên chữ nghĩa văn chương/ Một bên bè nứa em thương bên nào?".

Số là ngày ấy, khi bà còn là một cô bán hàng  xén xinh đẹp ở chợ quê, liền một lúc có hai anh đến hỏi bà. Cả hai đều người cùng làng, một  anh cao to nhà giàu lắm, làm nghề buôn bè. Một anh là bộ đội, có tài viết văn làm thơ khiến nhiều người xao xuyến, nhưng mải miết chiến đấu năm thì mười họa mới gặp gỡ. Chọn lấy ai quả thật là không dễ dàng...Và rồi cuối cùng đã bà chọn anh bộ đội làm thơ, biết là có thể khổ nghèo phân ly, nhưng bà đã  quyết "Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam"

Mà đói no thật, lạnh lùng thật chứ không đùa. Cái năm lấy nhau, còn là thời kháng chiến chống Pháp, ông là bộ đội xa nhà đi chiến đấu  biền biệt, đến hòa bình lại vẫn phải đi, đóng quân mãi giới tuyến Vĩnh Linh, còn bà thì vò võ một mình nơi   làng Điểu Khê, Hà Tĩnh. Cũng bởi vậy mà đến 9 năm sau ngày cưới, ông bà mới có đứa con đầu lòng, đặt tên Thiều Quang.

Bà Nguyễn Thị San thay chồng - cố nhà văn Xuân Thiều - nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017.
Bà Nguyễn Thị San thay chồng - cố nhà văn Xuân Thiều - nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017.

Rồi ông lại được điều ra Hà Nội, bà bế con theo ông, ở trong một căn nhà nhỏ nơi bãi Phúc Xá, không năm nào không phải bế bồng nhau chạy lũ lụt. Thương nhất là lũ con còn nhỏ của ông bà những lúc đó, ông thì dắt thằng con trai, bà bế hai đứa con gái chạy lũ, và chiều đến lại bơi ra nhà để tìm lô bản thảo của ông phải treo lên trần nhà, nhiều mùa mưa bão nước vẫn thấm ướt làm nhòe  hết nét mực.

Ở căn nhà ấy, ngày ngày bà đi làm nhà nước, là nhân viên của cửa hàng Bách hóa tổng hợp Hà nội, tan giờ làm lại tất bật về chợ búa, bếp núc, giặt giũ "hầu"chồng viết  văn và "hầu"  bốn đứa con nhỏ. Mà ngày đó, miếng ăn đâu đã đủ no, tấm  áo đâu đã đủ ấm. Gần như cả một đời bà chịu đựng, nhịn nhường lo cho chồng an tâm viết lách, có ly rượu ly bia đãi đằng bạn bè, lo cho con cái  học hành bằng anh bằng em cho chúng nên người...

 Sự hy sinh vất vả của bà luôn làm ông xúc động trên mỗi con đường ra trận. Năm 1969, giữa chiến trường ông viết  gửi về bà:

Thương em lắm, hậu phương bề bộn
Dắt mẹ cõng con sơ tán đường trơn
Phiếu gạo, phiếu dầu chong đèn tính toán
Báo động nghiêng đêm giấc ngủ chập chờn.

Thư em viết liêu xiêu nét chữ
Chỉ báo tin vui và chuyện tốt lành
Em giấu kín những điều thắc thỏm
Để yên lòng người đối mặt chiến tranh.

Em vĩ đại như hậu phương vĩ đại
Vẫn vững niềm tin, gánh nặng vai mòn
Và ta biết em cắn răng chờ đợi
Ngày sum vầy trọn vẹn nước non

Hậu phương ngày ấy của chúng ta thật vĩ đại,  những người vợ có chồng ra trận ngày ấy cũng thật vĩ đại. Bà chính là một trong những người vợ vĩ đại ấy...

 Chồng bà, ông - Đại tá, nhà văn Xuân Thiều, từng có thời cầm súng chiến đấu, nhưng sau này chỉ cầm bút làm thơ viết văn. Là nhà văn quân đội, nên phần lớn đời ông ở chiến trường. Những trang văn của ông rực rỡ như chính những ngày tháng ấy. Ông viết nhiều, nhiều lắm, từng được Giải thưởng văn học Nguyễn Đình Chiểu, Giải thưởng văn học Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng văn học Bộ quốc phòng, Giải thưởng Nhà nước 2001 và gần đây nhất là Giải thưởng cao quý nhất của Đảng và Nhà nước dành cho những đóng góp trong sáng tác văn học của ông là Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Bà đã có vinh hạnh thay chồng nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh do đích thân Chủ tịch nước trao tặng. Bởi bà phải lên nhận giải bằng xe lăn, Chủ tịch nước đã cúi xuống sát bà nói với bà những lời đầy xúc động và trao tặng bà tấm bằng cao quý của ông. Có lẽ đó cũng là phần thưởng cho chính bà, người vợ hiền, người thầm lặng gánh vác mọi việc nhà, việc con cái, mọi bão giông cuộc đời để nuôi các con nên người và thành đạt, và để  cho ông chỉ yên tâm ngồi viết và hoàn thành những sứ mệnh văn chương của mình...

Em vĩ đại như hậu phương vĩ đại
Vẫn vững niềm tin, gánh nặng vai mòn...

 Câu thơ ấy của ông như luôn đúng với bà qua mọi thời gian...

Vâng, bà là Nguyễn Thị San, người vợ yêu quý của Đại tá - nhà văn quân đội Xuân Thiều, cũng là người chị thân thiết của bao nhiêu nhà văn quân đội chúng ta như Hữu Thỉnh, Đỗ Chu, Vương Trọng, Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Trí Huân, Lê Thành Nghị, Nguyễn Bảo......

 Xin cảm ơn vợ một nhà văn lớn!

Châu La Việt

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.