Người làm phim chiến tranh nhiều nhất Việt Nam

Không giống như nhiều đồng đội một thời cùng chiến trường Trị Thiên khói lửa với mình đang làm cái việc diễn đạt hồi ức chiến tranh bằng những trang văn thơ. Nghệ sĩ Ưu tú - đạo diễn - cựu chiến binh Trần Vịnh lại miệt mài cần mẫn kể hàng trăm câu chuyện cổ tích có thật trong chiến tranh thông qua những thước phim điện ảnh, truyền hình.

Trong một lần cùng tôi đi thực tế tại huyện Hải Hậu của Nam Định để có cảm hứng sáng tạo cho bộ phim truyện truyền hình sử thi dài tập, NSƯT Trần Vịnh tâm sự: Bản thân trót "phải lòng" nghệ thuật sân khấu - điện ảnh từ ngày mới bước chân vào cổng Trường tiểu học Trưng Vương nổi tiếng của Thăng Long văn vật. 

Cũng bởi thế mà một lúc nọ, người đàn ông sinh năm Quý Mùi (1943) tại phố Lý Quốc Sư ấy bịn rịn chia tay cái nghề "gõ đầu trẻ" với phấn trắng, bảng đen tại đất cố đô Hoa Lư  để trở thành học sinh khóa đầu tiên Trường Nghệ thuật Quân đội.

Một ngày nọ, dẫu chưa tốt nghiệp, nhưng vì miền Nam thân yêu, Trần Vịnh tình nguyện đeo ba lô vượt Trường Sơn vào tăng cường cho Đoàn văn công quân giải phóng Trị Thiên - Huế. Bắt đầu từ đây, cuộc đời, phẩm chất cao quý của người chiến sĩ - nghệ sĩ Trần Vịnh được tôi luyện trong khói lửa chiến tranh, khác nào "Thép đã tôi thế đấy!".

NSƯT Trần Vịnh làm việc với diễn viên khi thực hiện series truyền hình "Huế mùa mai đỏ" - chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của cố nhà văn Xuân Thiều.
NSƯT Trần Vịnh làm việc với diễn viên khi thực hiện series truyền hình "Huế mùa mai đỏ" - chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của cố nhà văn Xuân Thiều.

Năm 1974, Trần Vịnh được rút khỏi chiến trường, điều động về Đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị. Với hình thể đẹp, cùng lối diễn xuất tinh tế thiên bẩm và đặc biệt là sau 9 năm cùng đồng đội vào sinh ra tử, Trần Vịnh đã tạo dựng cho mình một phong cách diễn riêng biệt, độc đáo với hình tượng người chiến sĩ. Từ một anh lính trẻ măng chưa từng một lần được cầm tay con gái, cho tới một vị Tư lệnh Binh đoàn uy nghiêm, nhân văn được Trần Vịnh khắc họa một cách sâu sắc, để đời.

Đã tưởng cuộc đời Trần Vịnh sẽ "đóng khung" vào những vai diễn sân khấu kịch nói, nhưng hóa ra không phải. Một ngày kia người nghệ sĩ hào hoa ấy chợt thấy, nếu chỉ để số phận "trôi" đi trên sàn kịch thì cuối cùng, mình cũng chỉ là cái anh chuyên minh họa cho những gì người ta viết ra mà thôi, chứ không thể có cơ hội kể lại những câu chuyện chiến tranh bằng ngôn ngữ điện ảnh.

Trăn trở mãi, cuối cùng Trần Vịnh quyết định rời ánh đèn sân khấu, chuyển sang công tác phát hành phim với mục đích có cơ may xem thật nhiều tác phẩm điện ảnh kinh điển, hiện đại,… để học hỏi kinh nghiệm làm phim. Ngày đẹp trời của năm1988, tài năng sân khấu của Trần Vịnh đã lọt vào "con mắt xanh" của NSND - đạo diễn Huy Thành khi ông làm phim điện ảnh "Về nơi gió cát".

Nhân vật chính tên Lũy do Trần Vịnh thủ vai đã thể hiện xuất sắc hình tượng cao đẹp về người chiến sĩ cách mạng, làm nên thành công rực rỡ của "Về nơi gió cát". Từ vai Lũy phim điện ảnh đầu tiên đó, đường đến với nghệ thuật thứ bảy của Trần Vịnh chính thức mở ra, mà người thày học đầu tiên của ông chính là NSND Huy Thành cùng nhiều bậc "trưởng lão" khác của điện ảnh Việt và quốc tế.

Khi đã có được một số vốn liếng cơ bản "giắt lưng", cộng với tài năng trời ban tặng, năm 1988, Trần Vịnh đã rất chững chạc tự tin trong quá trình thực hiện bộ phim điện ảnh đầu lòng "Bến nước" với tư cách đạo diễn khi ông được Hãng phim truyện Việt Nam đặt hàng. Bắt đầu từ đây, cụm từ "Đạo diễn Trần Vịnh" chính thức ghi danh trong làng phim Việt.

 Ai đó đã không hề ngoa ngôn khi cho rằng, gần đây người ta mới bàn tới chủ đề "xã hội hóa điện ảnh", trong khi Trần Vịnh đã "tiên phong" với câu chuyện đó ngay từ những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ trước. Thật ra câu chuyện đó có "tích" của nó cả đấy. Chuyện rằng, sau thành công của tác phẩm điện ảnh "Bến nước", Trần Vịnh được giao làm bộ  phim 3 tập"Lời khẩn cầu" liên quan tới vấn nạn "video đen" thời điểm đó.

Phim làm xong đem trình duyệt lập tức bị xem là "có vấn đề" thế nọ, thế kia. Và muốn cho tác phẩm phát hành được, đạo diễn phải thế kia, thế nọ. Nhưng Trần Vịnh nhất định không chịu "vâng lời", vì ông cho rằng, làm vậy khác nào "đẽo cày giữa đường", hỏng toàn bộ cấu trúc phim. Là người tự tôn, Trần Vịnh chủ động xin ra khỏi biên chế. Nhưng không vì thế mà nhiệt năng khát vọng kể những câu chuyện chiến tranh bằng ngôn ngữ điện ảnh trong tâm can Trần Vịnh trở nên nguội lạnh.

"Ra ở riêng" đấy nhưng "công ty điện ảnh tư nhân Trần Vịnh" không hề có trụ sở, không hề có con dấu pháp nhân. Nó lại càng không có tài khoản ngân hàng cũng như bất cứ thứ thiết bị kỹ thuật cần thiết tối thiểu nào hết nhằm đáp ứng việc sản xuất phim. "Công ty" đó chỉ trần sì một ông đạo diễn phong độ, trực tính, "ăn sóng nói gió", sâu sắc, nhân văn, đã nói là làm cho "ra tấm ra miếng". Người đó là Trần Vịnh!

Ban đầu người ta quả quyết rằng, Trần Vịnh sẽ tìm mọi cách "làm giàu" bằng nghề đạo diễn. Nhưng hóa ra không phải. Trong khi thiên hạ đua nhau "chế tác" loại phim "mỳ ăn liền" (và sau này là dòng phim thương mại) nhằm đưa doanh thu đạt giá trị thặng dư thì Trần Vịnh lại vẫn chỉ một lòng chung thủy sắt son với đề tài chiến tranh và hậu chiến.

Để thực hiện giấc mơ thiêng liêng ấy, Trần Vịnh đặc biệt quan tâm tới khâu đầu tư cho kịch bản văn học. Với ông, muốn có một tác phẩm điện ảnh (truyền hình) cho "ra hồn" thì trước hết phải có được kịch bản văn học thật hay. Làm như đã nghĩ, Trần Vịnh chủ động vào Nam ra Bắc gõ cửa các nhà văn, nhà biên kịch có tên tuổi mời họ hợp tác.

Sau khi hai bên thống nhất được ý tưởng chung, không hề so đo, Trần Vịnh bỏ ngay những đồng tiền túi tích cóp được mà tạm ứng (trong khoản nhuận bút rất không nhỏ mà ông sẽ trả họ) cho các nhà văn, nhà biên kịch để họ có "lương ăn" trong khi đi thực tế (chứ không phải ngồi trong phòng lạnh tưởng tượng!) tại các địa phương mà tác phẩm điện ảnh sẽ lấy làm bối cảnh sản xuất sau đó.

Với cách làm "sòng phẳng", thân thiện và chu đáo đó, lần lượt các nhà văn, nhà biên kịch có "thương hiệu" đã toàn tâm toàn ý "chung lưng đấu cật" với Trần Vịnh.  Họ là cố nhà văn - nhà viết kịch Nguyễn Khắc Phục; cố nhà văn - kịch tác gia Xuân Đức. Rồi thì nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn, Chu Lai. Và đương nhiên không thể  thiếu cặp vợ chồng nhà biên kịch Lê Phương - Trịnh Thanh Nhã cùng các nhà văn Thái Bá Lợi, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Thành Phong, Lê Anh Thúy, v.v…

Có được kịch bản văn học chất lượng tốt nhất, bấy giờ Trần Vịnh chính thức bắt tay vào sản xuất. Nhưng để có tiền, Trần Vịnh "vác" kịch bản văn học tới các địa phương "xin" tài trợ; hỗ trợ nhân lực, vật lực theo đúng nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Có được chút "lưng vốn" tối thiểu, Trần Vịnh đi bước tiếp theo: thuê thiết bị kỹ thuật của Hãng phim truyện Việt Nam để tiến hành sản xuất.

Cùng với đó, ông ký hợp đồng sản xuất với các đạo diễn hình ảnh; đạo diễn ánh sáng và nhân viên kỹ thuật, diễn viên, v. v… Trần Vịnh từng kể, không thiếu gì những lần, sau khi phim hoàn thành giai đoạn hậu kỳ, phim chuẩn bị công chiếu thì cũng là lúc ông phải "đối mặt" với một thực tế bi - hài: không còn tiền để trả thù lao cho chính mình!

Đằng đẵng mấy mươi năm qua, sau những nỗ lực phi thường của người đạo diễn "máu thịt" với đề tài chiến tranh ấy là hàng loạt tác phẩm điện ảnh, phim truyền hình với sự hội tụ của Chân - Thiện - Mỹ mang dấu ấn rất TrầnVịnh lần lượt ra đời. Một lần nọ tôi đặt câu hỏi với Trần Vịnh: "Làm phim về chiến  tranh một lúc phải gánh ba chữ "Kh" (khó - khô - khổ) trên vai cùng muôn vàn gian truân mà sao ông vẫn cứ một lòng "sống chết" với nó vậy?!".

Lặng đi một hồi rất lâu, bất giác Trần Vịnh nghẹn lời dốc hết ruột gan rằng, bản thân đã từng là người lính - nghệ sĩ đi qua mấy cuộc chiến tranh ái quốc vĩ đại của dân tộc. Đồng thời, là con trai của một liệt sĩ thời chống Pháp nên ông thấm đến tận cùng nỗi đau thương mất mát không gì bù đắp nổi của mỗi người lính; mỗi gia đình trước và sau cuộc  chiến. Chính những trải nghiệm quý giá đó đã thôi thúc Trần Vịnh kể lại những câu chuyện chiến tranh thông qua ngôn ngữ điện ảnh. Và rồi, với ý thức trách nhiệm công dân nghiêm túc, sau mấy chục năm miệt mài lao động sáng tạo nghệ thuật, Trần Vịnh đã thực hiện (với tư cách nhà sản xuất kiêm đạo diễn) 163 bộ phim (với gần 400 tập) phim điện ảnh - truyền hình, mang sắc thái nghệ thuật riêng có. Ai đó đã trân trọng thốt lên: thành quả lao động của Trần Vịnh xứng đáng được ghi vào sách kỷ lục Guinness làng phim Việt!

Giá trị lao động của Trần Vịnh đã được khẳng định qua 31 giải thưởng chuyên ngành điện ảnh và giải thưởng Bộ Quốc phòng, v. v… Đặc biệt, năm 2014, NSƯT Trần Vịnh vinh dự được Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phong tặng danh hiệu: "Người làm phim chiến tranh nhiều nhất Việt Nam!". Ngoài ra đạo diễn Trần Vịnh còn gặt hái được nhiều thành công qua 13 bộ phim Tài liệu - Nghệ thuật. Nay dẫu ở cái tuổi "xưa nay hiếm", song NSƯT Trần Vịnh vẫn cứ phong độ, hào sảng, đầy mẫn tiệp. Và khát vọng kể chuyện chiến tranh bằng ngôn ngữ điện ảnh trong ông vẫn cứ trong trẻo, tinh khôi thuần khiết như thuở ban đầu vậy.

Lê Công Hội

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".