Ngô Quang Châu – “bồ chữ của dân tộc”

“Bồ chữ của dân tộc” - đó là chữ mà nhà thơ Xuân Diệu giới thiệu về ông Ngô Quang Châu – Giám đốc đầu tiên của Nhà xuất bản Văn nghệ (nay là Nhà xuất bản Văn học) tại Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam (1948) trên Chiến khu Việt Bắc. 

Cụ bà Nghiêm Thị Tãnh, bà quả phụ Ngô Quang Châu ngồi trên sập gỗ giữa nhà, mặt phúc hậu, mái tóc bạc trắng buông xuống tấm chăn, trầm ngâm nhìn ra đường hay một khoảng không vô định nào đó của ký ức. Thoáng chút lạnh trong mưa làm dậy lên nỗi nhớ của bà trong những câu chuyện kể về ông cho tôi nghe.

Trước Cách mạng tháng Tám, ông Ngô Quang Châu tham gia tổ chức thành lập Tổng hội sinh viên ba nước Đông Dương cùng các ông Vũ Quý, Trần Quốc Hương (tức Mười Hương), Dương Đức Hiền. Tiếp đó, tại cuộc mít tinh ngày 17/8/1945 do Tổng hội viên chức Chính phủ Trần Trọng Kim tổ chức tại Hà Nội, ông Ngô Quang Châu đại diện Việt Minh đã lên chiếm diễn đàn trước sự ngỡ ngàng của các viên chức.

Ông Nguyễn Dực (con trai nhà văn Nguyễn Văn Vĩnh), là người phụ trách âm thanh, lấy chiếc micrô đưa cho ông Ngô Quang Châu. Nét mặt rắn rỏi, giọng đanh thép, ông Ngô Quang Châu giơ hai nắm tay hùng dũng kêu gọi đồng bào: Ủng hộ Việt Minh, khởi nghĩa giành lấy chính quyền.

Ông Ngô Quang Châu (1919 – 2003).
Ông Ngô Quang Châu (1919 – 2003).

“Bồ chữ của dân tộc”

Nước nhà độc lập sau hơn 80 năm nô lệ, ông Ngô Quang Châu tham gia hoạt động văn hoá. Trong danh sách Bộ biên tập của Tạp chí Tiên Phong gồm hơn hai mươi nhà văn hoá, trí thức tên tuổi trong cả nước do ông Trần Huy Liệu làm chủ bút, Ngô Quang Châu thường đứng ở hàng thứ tư theo vần A, B, C, sau Tâm Kính, Đào Duy Anh, Nam Cao. Từ số 19, ngày 16/9/1946, Ngô Quang Châu bắt đầu làm nhiệm vụ quản trị Báo Tiên Phong thay cho Đỗ Xuân Giũng.

Ông đã được bầu làm Uỷ viên chính thức Ban chấp hành Hội Văn hóa Cứu quốc Việt Nam khóa 1946 – 1947, do nhà văn Đặng Thai Mai làm Chủ tịch, nhà văn Hoài Thanh làm Tổng Thư ký, nhà thơ Tố Hữu và nhà văn Nguyễn Huy Tưởng làm Phó Tổng thư ký.

Tại Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam, ông Ngô Quang Châu được bầu làm Ủy viên quản trị trong Ban chấp hành gồm 17 Uỷ viên.  Tổng thư ký là nhà văn Nguyễn Tuân; Phó Tổng thư ký là nhà thơ Tố Hữu. Trên Tạp chí Văn nghệ số 4 tháng 8 năm 1948, khi viết bài tường thuật lại “Đại hội Văn nghệ”, ông hoàng thơ tình Xuân Diệu đã dành một câu đặc biệt đắt giá: “bạn Ngô Quang Châu, bồ chữ của dân tộc”. 

Tìm trong bộ báo Tiên Phong, cơ quan vận động văn hoá mới trong những năm 1945 – 1946, do Lại Nguyên Ân và Hữu Nhuận sưu tầm, mới hiểu vì sao Xuân Diệu ví von ông Ngô Quang Châu là “bồ chữ của dân tộc”. Nhiều bài viết về tiếng Việt của ông xuất hiện: "Phải bạo dùng tiếng Việt" (số 8, ngày 1/4/1946), "Giá trị gợi tả của âm thanh trong tiếng Việt" (số 10, ngày 1/5/1946), "Vấn đề cải cách chữ Quốc ngữ" (số 11, ngày 15/5/1946), "Hợp lý hoá chữ Việt" (số 14, ngày 1/7/1946), "Sức sống của tiếng Việt" (số 20, ngày 1/10/1946)…

Của tin còn một chút này

Sau Đại hội thành lập Hội Văn nghệ Việt Nam ít lâu, ông Ngô Quang Châu được sự tín nhiệm của anh em văn nghệ, đã giữ chức vụ Giám đốc Nhà xuất bản Văn nghệ trong suốt 4 năm cho đến khi ông nghỉ công tác.

Nhà văn Sao Mai, trong hồi ký “Sáng tối mặt người” (2003), đã kể lại kỷ niệm nhà văn Nguyễn Huy Tưởng giao cho Ngô Quang Châu rèn giũa, bồi dưỡng để ông qua lớp cảm tình Đảng. Rồi cũng chính ông Ngô Quang Châu dẫn Sao Mai lên Việt Bắc để kết nạp. Ngược rừng chuyến thứ hai, ba lô, mũ lá, mũ vải mềm, dép cao su quai ngắn chằng sang quai dài đi tắt qua Hòa Bình lên Việt Bắc. “Lão Châu này chăm sóc tôi có nhẽ còn hơn em ruột” – Sao Mai nhận xét.

Câu chuyện vượt đường số 6 được Sao Mai kể lại khá hài hước. “Gặp một dòng suối to bằng con sông nhỏ, nhưng lội nước chỉ ngang hông, tôi để nguyên quần áo lội uồm uồm kiểu trâu đầm, kệ cho Ngô Quang Châu đi trước bì bõm cùng với tốp người Mường, có bà già con gái lẫn với phụ nữ nạ dòng. Sợ ướt, váy họ lại chẽn hẹp, không vén được, họ liền cởi hết ra quấn lên đầu, giục nhau lội, cười nói vang suối.

Khi nghe tiếng súng dội ùng oàng vào vách núi, họ kêu “bời” (giời), chạy ré lên, liêu xiêu trên những hòn đá cuội đầy rêu. Một bà nắm ngay lấy tay anh Châu đòi dắt sang. Thấy quang cảnh nồng nỗng thế, anh ta hốt, vội rảo bước nhưng chẳng những anh  không thoát được bà nọ, còn bị thêm một cô gái khác bám chặt lấy cánh tay. Thế là họ Ngô cứ đi van vát như cua bò, cổ ngẳng sang phía khác, mặt đỏ tía tai, vênh vếch nhìn trời”.

Đêm ngủ, Sao Mai còn trêu Ngô Quang Châu đến phát cáu mới tha. Sau kỳ ấy, hai người có thư từ cho nhau vài bận, rồi không gặp lại nhau đâu nữa. Nhớ đến người bạn văn nghệ, Sao Mai bình một câu: “Đời bạn bè vẫn có nhiều ca như thế đấy”.

Một số cuốn sách của ông Ngô Quang Châu.
Một số cuốn sách của ông Ngô Quang Châu.

Nghe tôi đọc xong đoạn hồi ký trên, bà Nghiêm Thị Tãnh nhờ cô con gái Ngô Thị Sao mở tủ lấy những kỷ vật. Những tấm ảnh đã 60 năm có lẻ, bà vẫn chỉ cho tôi một cách tỉ mỉ và rõ ràng. Theo sự phân công của Hội Văn hóa Cứu quốc, ông Ngô Quang Châu làm Trưởng ban tổ chức phòng triển lãm văn hóa tại nhà Khai Trí Tiến Đức khai mạc vào ngày 7/10/1945.

Ngày khai mạc cũng là ngày ông có vinh dự được đón Hồ Chủ tịch cùng các vị cố vấn của Chính phủ, các vị Bộ trưởng tới dự: Ông Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại lúc ấy đã thoái vị), luật sư Vũ Trọng Khánh – Bộ trưởng Bộ Tư pháp; ông Trần Huy Liệu – Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền; ông Vũ Đình Huỳnh – Bí thư Hồ Chủ Tịch; ông Ngô Quang Châu…

Một tấm ảnh khác, bà cười móm mém: “Ảnh này chụp Bác Hồ, ông nhà tôi và ông Nguyễn Đình Thi. Về sau, ông Châu cho một người bạn mượn. Người bạn này không thích ông Nguyễn Đình Thi nên đã cắt bỏ ông Thi đi khiến ông Châu nhà tôi giận lắm”.

Cả chiều hôm đó, bà kể những kỷ niệm về ông bà. Bà nhắc tên các văn nghệ sĩ, cụ Đặng Thai Mai, ông Nguyễn Tuân, ông Nguyễn Huy Tưởng, ông Xuân Diệu, ông Văn Cao, ông Nguyễn Đình Thi… “Ông Ngô Quang Châu nhà tôi là chơi thân với rất nhiều ông nhà văn, nhà báo, đủ cả. Những tấm ảnh này là ông Nguyễn Bá Khoản tặng làm kỷ vật đấy chú ạ”.

Sau khi xem lần lại từng kỷ niệm trong album ảnh gia đình, bà Ngô Quang Châu cho tôi xem tiếp những giấy tờ của Hội Văn nghệ. Ý bà phải chăng như một câu Kiều rằng: “Của tin còn một chút này…”. Đó là thẻ hội viên Hội Văn nghệ Việt Nam số 4, ngành Văn học, cấp cho ông Ngô Quang Châu tại Việt Bắc ngày 20/3/1951 do Tổng thư ký Nguyễn Tuân ký; cùng nhiều giấy tờ khác do Ban Thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam mời sau ngày về tiếp quản Thủ đô: do  nhà văn Nguyễn Tuân, nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh, nhà phê bình Hoài Thanh,  nhà thơ Vĩnh Mai… ký.

Con đường ngàn dặm

Bà lại nhìn ra ngoài phố trong một khoảng không vô định. Tôi hỏi tiếp bà những kỷ niệm về các văn nghệ sĩ trước đây từng là bạn của gia đình. Bà hỏi: “Cụ Đặng Thai Mai còn không? Ông Nguyễn Huy Tưởng còn không? Ông Nguyễn Tuân còn không? Ông Văn Cao còn không? Ông Nguyễn Đình Thi còn không? Ông Xuân Diệu còn không?...”. Tôi trả lời bà các ông đều mất cả rồi. “Mất cả rồi thì còn kể làm gì nữa chú”.

Người già sống bằng ký ức, phải vậy chăng nên bà bảo những đêm bà ít ngủ, những chuyện về các ông ấy lại trở về… Nhưng kể ra làm gì, bà giữ ở trong lòng. Tôi im lặng cùng bà ngắm phố, ngắm từng dòng người qua lại. Bà bảo cuộc đời như dòng đời đi qua, thoáng vậy mà từ một cô thôn nữ quê gốc Kim Bảng – Hà Nam, sinh trưởng ở làng hoa Ngọc Hà – Hà Nội, lấy chồng theo kháng chiến, bà đi khắp nơi.

Bà lặng nhìn những cơn gió thổi về cuốn theo từng chiếc lá trên hè phố. Dòng người vẫn ngược xuôi qua lại. Tiếng còi xe buổi tan tầm trên con phố đông người qua lại như những nhát kéo cắt câu chuyện thành những mảnh của trò chơi Trí Uẩn bắt người ta phải tìm cách lắp ghép. Bà miên man trong các kỷ niệm.

Giờ đây, khi tôi trở lại ngôi nhà thì bà cũng đã về đoàn tụ với ông dưới suối vàng. Nơi xa xa ấy, ông đã ghi công bà: “Mặc sương nắng, mặc đạn bom/ Khu Tư, Việt Bắc chẳng chồn bước chân/ Nam Cao giặc giết Ý Yên/ Đưa lên văn nghệ con anh an toàn/ Kìa Tam Điệp, nọ Rừng Ngang/ Mã giang thác đổ, Đà giang sóng cồn/ Thao Lô bát ngát mây vờn/ Con đường ngàn dặm sắt son lời thề…”.

Kiều Mai Sơn

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".