Ngẫm cười hai chữ nhơn tình éo le

Vào tháng 7/2022, nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày sinh của Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Đình Chiểu, UBND tỉnh Bến Tre chủ trì, phối hợp với các cơ quan hữu quan tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế Danh nhân Nguyễn Đình Chiểu trong thời đại ngày nay. Các bài tham luận được NXB Chính trị Quốc gia chọn in trong tập sách cùng tên với chủ đề hội thảo. Trong số đó, khi bàn về “Các hình thức ngôn từ nghệ thuật trong Lục Vân Tiên”, PGS.TS. Trần Đức Ngôn đánh giá: “Cách gieo vần này có vẻ như gượng ép, nhiều từ dùng để gieo vần có vẻ như bị làm sai lệch về ngữ âm để cho phù hợp với vần chân và vần lưng…”.

Nay, ta thử xét các thí dụ đã nêu ra trong tham luận này, liệu có phải “sai lệch về ngữ âm”?

Trong khăn lụy nhỏ chứa chan/ Cảm thương phận tớ mắc nàn khi không”. Mắc nàn là mắc nạn, cách phát âm của người miền Nam mà “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) ghi nhận, giải thích: “Tai hại, đồng nghĩa với tiếng nạn”, dẫn chứng “Nghèo nàn, tai nàn, mắc nàn, phải nàn, gặp nàn…”. Vậy, sai lệch về ngữ âm chỗ nào, trong khi người miền Nam hiểu như thế, phát âm như thế? Mà, nào riêng gì người miền Nam, ngay cả thi hào Nguyễn Du cũng sử dụng “nàn” đó thôi:

Rằng: “Nàng chút phận hồng nhan

Gặp cơn binh cách nhiều nàn cũng thương

Ấy là lúc Hồ Tôn Hiến nói về Thúy Kiều sau khi Từ Hải “Khí thiêng khi đã về thần”. Từ nàn này, là theo bản “Từ điển Truyện Kiều” (NXB Khoa học Xã hội - 1993, tr.539) của học giả Đào Duy Anh - với chú thích: “Nàn: Chữ Hán là nan, nói chệch thành nàn, nghĩa là khó khăn, gian nan vất vả” (tr.261).

Ngẫm cười hai chữ nhơn tình éo le -0
Tranh minh họa truyện thơ nôm “Lục Vân Tiên” của họa sĩ Lê Đức Trạch, bản in năm 1897.

Ngư rằng làm đạo rể con/ Cũng như sợi chỉ mà lòn trôn kim”. Lòn là luồn, hiểu theo nghĩa: “Cúi xuống mà đi qua, đưa qua, tron vào”. “Tron” có nghĩa là xen vào, đút vào, xỏ vào và dẫn chứng: “Sợi chỉ lòn trôn kim: Sợi chỉ xỏ qua lỗ cây kim, chỉ nghĩa chịu lòn hết cách”, tuy nhiên tự vị này cũng ghi nhận “Luồn: Lòn qua, tron vào, xuyên qua”. Nếu câu thơ trên thay bằng từ “luồn” của cách nói toàn dân như “Xe chỉ luồn kim”. “Luồn thì luồn cửa tiền cửa hậu/ Chớ không thèm luồn bờ giậu chó chui” ắt câu thơ sái vần.

Thỏ vừa ló bóng gà đà gáy tan/ Bao giờ cho tới bắc phang”. “Phang” là phương, bắc phang là bắc phương. Tự vị trên cũng cho biết “Phang: (coi chữ phương) cùng nghĩa là hiểu theo nghĩa: “Một xứ, một hướng, một phía…”.  Rõ ràng, cụ Đồ Chiểu gieo vần chính xác, phù hợp với lời ăn tiếng nói của người miền Nam, dám khẳng định ở đây không hề có sự “sai lệch về ngữ âm”.

Do không hiểu cách phát âm, thổ âm thổ ngữ của người Nam, ông Ngôn đã dẫn tới ý kiến khác cũng ngộ nghĩnh nốt: “Những ví dụ sau đây chứng tỏ rằng, hiện tượng gieo vần lạ của Nguyễn Đình Chiểu là cố ý”.

Ta thử xét các thí dụ đã nêu ra, liệu có phải “hiện tượng gieo vần lạ”?

Vân Tiên ngơ mặt chẳng nhìn, Nguyệt Nga liếc thấy càng thìn nết na”. Thìn là từ cổ, “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích: “Sửa sang, răn, giữ”. Hơn 600 năm trước, “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi (1380-1442) đã sử dụng: “Hiềm kẻ say chưng bề tửu sắc/ Họa người thìn được thói cha ông” v.v… Như thế, cụ Đồ Chiểu gieo “thìn” bắt vần với “gìn” là một lẽ tự nhiên, phải là thế, chứ không thể chọn từ nào khác trong ngữ cảnh này. Thế thì, sao lại nói “gieo vần lạ”?

Nếu cho rằng, tác giả “cố ý”, “gieo vần lạ” thì giải thích thế nào với các các câu phổ biến trong lời ăn tiếng nói mà “Việt Nam từ điển” (1931) đã ghi nhận và giải thích: “Thìn: Gìn giữ tính nết cho được tốt, được hay”, văn liệu: “Thìn lòng, Thìn tính, Thằng bé này tính nết thìn lắm”?

“Thiếp thưa chưa dứt chàng đà làm ngơ. Của này là của vất vơ”. Từ “vất vơ” là “Lang thang, lông bông: đi vất vơ ngoài đường”, theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999). Người miền Nam cũng hiểu: “Dật dờ, ngã qua ngã lại”. Đặt trong ngữ cảnh sau khi Lục Vân Tiên ra tay “Khác nào Triệu Tử phá vòng Đương Dương” cứu Kiều Nguyệt Nga bị cướp cạn, nàng rút trâm đưa chàng “để cầm làm tin”. Nàng nói nhún là “của vất vơ” - hiểu theo nghĩa bóng là vật tầm thường, không giá trị gì. Cách nói này phản ánh tính cách của người Việt nói chung, thí dụ, khách đến chơi nhà, quý khách, chủ nhà đãi cao lương mỹ vị nhưng vẫn khiêm tốn: “Dạ, bữa nay chỉ có dưa muối, cây nhà lá vườn, mời bác vui lòng dùng tạm qua bữa”.

Tương tự, nghe nàng nói nhún, vốn văn võ toàn, chữ nghĩa “đầy mình”, con nhà gia giáo, Lục Vân Tiên thừa hiểu cách nói thanh lịch ấy nên đáp ngay: “của này rất sang”. Từ “vất vơ” trong ngữ cảnh này là hiểu theo nghĩa bóng của cách nói tiêu biểu trong phép xã giao lịch sự của người Việt từ Bắc chí Nam, chứ cụ Đồ Chiểu không hề “cố ý” “gieo vần lạ”.

Ngửa trông lượng rộng văn nhân thế nào? Vân Tiên xem thấy ngạt ngào”. Với từ này, hẳn ta dễ dàng liên tưởng đến một câu trong ca từ của Đoàn Chuẩn - Từ Linh: “Nhớ tới mùa thu năm xưa, gửi nhau phong thư ngào ngạt hương”. “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) cho biết: “Ngạt ngào như ngào ngạt”: “Có mùi thơm bốc lên lan tỏa rộng và kích thích vào khứu giác”. Như vậy, bài thơ mà Kiều Nguyệt Nga viết “tám câu năm vần” (thơ Đường luật) không chỉ được viết trên giấy thơm, giấy quý mà còn hàm nghĩa thơ hay, do đó, Vân Tiên mới ngạc nhiên: “Ai dè sức gái tài cao bực này”.

Rõ ràng, cách sử dụng vốn từ của cụ Đồ Chiểu hoàn toàn không phải “gieo vần lạ”, “sai lệch về ngữ âm”. Thiết nghĩ, cách hiểu và đánh giá trong tham luận trên nhất thiết cần có sự trao đổi, góp ý cũng là điều bình thường. Tuy nhiên, có một điều tôi không hiểu nổi là căn cứ lý lẽ gì, ông Ngôn cho rằng: “Trên thực tế, với tài thơ Nguyễn Đình Chiểu, một cách gieo vần chuẩn mực hoàn toàn có thể thực hiện được”. Xin hỏi một một cách nghiêm túc rằng, lấy tiêu chí gì, so sánh gì để biết thế nào là “gieo vần chuẩn mực” trong trường hợp Lục Vân Tiên? Với dẫn chứng về các thí dụ đã nêu, không một ai có thể trả lời nổi, kể cả chính người đã viết ra câu khôi hài mà tôi vừa trích dẫn.

Không những thế, khi đọc truyện thơ nôm của Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu, ta còn gặp những câu “khó hiểu” như: “Nực cười con tạo trớ trinh/ Chữ trinh tráo chác, chữ tình lãng xao”; “Võ Công làm việc trớ trinh/ Dứt tình học Lục, mến tình họ Vương”.

Có phải do sai morat, phải là trớ trêu chứ? Không đâu, “Từ điển truyện Lục Vân Tiên” (NXB TP Hồ Chí Minh - 1989) của Nguyễn Quảng Tuân, Nguyễn Khắc Thuần ghi nhận và giải thích: “Con tạo trớ trinh: Trời làm những việc oái oăm; làm việc trớ trinh: làm những việc oái oăm hại người” (tr.319).

Liệu chừng trớ trinh có phải là oái ăm?

Cần xem lại nghĩa của từ này: “Oái oăm: Kỳ khôi, hiểm hóc: Chơi những cách oái oăm. Văn liệu: Họa vần thơ giở giọng oái oăm (X.H) - theo “Việt Nam tự điển” (1931); “Trái hẳn bình thường tới mức không ngờ tới được. Cảnh ngộ oái oăm. Tính nết oái oăm. Trò chơi oái oăm” - theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999). Câu thơ “Nực cười con tạo trớ trinh” là hiểu theo nghĩa này.

Còn câu “Võ Công làm việc trớ trinh” lại khác. “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) giải thích: “Trớ trinh: Nhiều lời dối trá, láo xược. Nói trớ trinh”. Rõ ràng, trớ trinh khác với oái oăm. Cần phải hiểu thêm nghĩa là chỉ việc làm trái với lẽ phải, không tôn trọng chữ tín đã giao kèo trước đó như trường hợp Võ Công đối với Lục Vân Tiên.

Oái oăm và trớ trinh khác nhau, tùy thuộc vào ngữ cảnh. Khác ở chỗ mức độ cao hơn “trái hẳn bình thường” của từ oái oăm, do đó, khi gặp chuyện thì người ta sẽ tức giận đùng đùng, có thể dẫn tới việc làm thiếu kiềm chế. Chẳng hạn, trong tuyện thơ “Sáu Trọng” lưu hành tại Nam Kỳ đầu thế kỷ 20, có chi tiết khi biết vợ ngoại tình, tham tiền phụ nghĩa: “Trọng nghe nàng nói giận thay/ Tao kỳ tam nhựt phân thây hành hình/ Căm loài Võ Hậu trớ trinh/ Sao không suy xét buộc mình bợn nhơ”.

“Trớ trinh” là cách nói của người miền Nam. Nếu trách riêng, chọn lấy mỗi từ trớ, thì trớ có nghĩa là né, tránh. Thí dụ, có người không thích nghe ai bàn chuyện này, vì thế, khi nghe ai nhắc tới liền trớ qua chuyện khác. Cách trớ/ nói trớ này, gần như là “đánh trống lảng”- lảng qua chuyện đang bàn mà mình không thích nghe đến.

Vậy, trong tình huống: “Ơ kìa, nó đã trớ”. Có phải nó đã trớ qua chuyện khác vì không muốn nghe chuyện này? Chưa chắc. Khi trẻ em ói sữa, người ta cũng dùng từ trớ. Đã thế, lại còn sử dụng trong trường hợp lách mình để tránh cái gì đó tác động vào thân thể mình, thí dụ kể lại câu chuyện ẩu đả, có người nhận xét: “Dù bị tấn công tới tấp nhưng anh ta vẫn trớ qua né lại nên vẫn an toàn”. Mà, không chỉ có thế, thí dụ, người này nói: “Chờ hắn từ sáng vẫn chưa thấy tăm hơi đâu”, người kia đoán: “Biết đâu hắn ta đi trớ đường”. Trớ còn nghĩa là sai/ sai đường. Trong Nam nói “đi trớ” là đi lạc.

Nếu có đạo đức, tư cách tốt thì không ai dám làm những việc trớ trinh. Còn nói trớ, tùy trường hợp, người ta vẫn có thể sử dụng. Trong “Tạp bút năm Ất Hợi 1995” (NXB Trẻ-2022), cụ Vương Hồng Sển có nêu ra vài cách nói trớ như với nghệ thuật “hát bội”, sở dĩ người ta nói trớ qua “hát bộ” vì nhằm tránh sự liên tưởng bội trong từ bội bạc, chẳng hay ho gì; kể cả “nghề thợ bạc cũng tránh tiếng bạc/ bội bạc nên đổi thành thợ kim hoàn” (SĐD, tr. 88). Ý kiến này rất để chúng ta suy nghĩ về cách sử dụng từ trong tiếng Việt.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?