Muối – Những điều kỳ diệu!

Dân tộc nào cũng có truyền thuyết, tục ngữ, ca dao về hình tượng muối, vì đó là thứ không thể thiếu trong đời sống con người, quen thuộc và cần thiết đến mức dân gian nâng lên thành một biểu tượng văn hoá giàu ý nghĩa.

Xét dưới góc độ hoá học, muối (biển) chứa 40% natri, 60% clorua và các thành phần khác như canxi, kẽm, kali và sắt là những vi chất rất cần cho cơ thể, giúp hỗ trợ và cải thiện các vấn đề sức khỏe. Ngoài tính kháng viêm mạnh và chống khuẩn tốt, muối còn có tác dụng giảm đau và cải thiện tình trạng co cứng khớp.

Muối duy trì lượng máu tuần hoàn và huyết tương trong cơ thể, giúp đường gluco thấm qua thành ruột non. Muối tác động đến cơ chế phản ứng của các dây thần kinh nhạy bén, năng động. Không chỉ giúp hệ tiêu hóa hoạt động tốt vì có acid hydrochloric kích hoạt dạ dày, ngăn ngừa đầy hơi, ợ nóng hoặc khó tiêu, muối còn giúp cơ thể thanh tẩy tế bào chết, làm săn chắc làn da, cải thiện giấc ngủ, cân bằng chất điện giải và ngăn chặn đột qụy…

Có thể còn nhiều tính năng khác, nhưng hầu như với mỗi người chúng ta hôm nay đều thường dùng nước muối để vệ sinh răng miệng. Muối sẽ giúp tiêu diệt vi khuẩn còn ẩn sâu trong các kẽ răng và nướu – nguyên nhân chính gây nên mùi hôi…

Cánh đồng muối.
Cánh đồng muối.

Như vậy, ở bất cứ đâu, ở thời đại nào muối cũng đều thân thiết, gắn bó với con người. Dĩ nhiên “thái quá bất cập”, quá tôn sùng hay ăn nhiều muối sẽ có tác hại. Ngày xưa, theo phép kiêng kỵ thiếu khoa học, các cụ ta thường chỉ cho phụ nữ mới sinh ăn cơm với muối trắng nướng (cho muối vào niêu đất vùi trong lửa) nên dẫn tới người mẹ dễ bị suy dinh dưỡng và hẳn nhiên là con bị còi cọc. Ngày nay khoa học sức khoẻ cảnh báo nếu cơ thể hấp thụ nhiều muối dễ dẫn tới huyết áp cao, đột quỵ và dễ mắc các bệnh ung thư…

Xét trong lịch sử văn hoá thì muối đã trở thành một biểu trưng mang tính mẫu số chung cho cả nhân loại. Kho tàng ca dao Việt có rất nhiều câu về “muối”, như: “Tay nâng chén muối đĩa gừng/ Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau/ Muối ba năm muối hãy còn mặn/ Gừng chín tháng gừng hãy còn cay/ Đôi ta nghĩa nặng tình đầy/ Có xa nhau đi nữa, cũng phải ba vạn sáu ngàn ngày mới xa”…

Muối thì mặn. Gừng thì cay, không phải là cay đắng mà là cái cay thơm nồng, đậm đà. Cái cay làm tiêu tan nỗi u buồn nặng trĩu đánh thức cái cảm giác nhạy bén mới mẻ. Thế nên gừng còn là vị thuốc (Đông y gọi là can khương).

Dựa vào đặc tính mặn của muối nên hầu như câu ca dao nào cũng mang tính biểu trưng cho tình cảm gắn bó, yêu thương của con người. Đối lập với “mặn” là “nhạt”. Nên hết yêu nhau, xa nhau, hờ hững với nhau thì người ta gọi đích đáng là “nhạt”, nhạt nhẽo, nhạt nhoà, nhạt phai,… Trong văn chương, không hay cũng bị gọi là “nhạt”, tức thiếu tình, thiếu chất đời, thiếu chất tư duy… Dở quá thì bị gọi là “nhạt toẹt”, “nhạt thếch”…

Người Việt có phong tục “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” chứa đựng một triết lý nhân văn sâu sắc. Cuối năm mua vôi về sơn quét nhà cửa để đón xuân mới. Thời tiết cuối năm thuận tiện cho việc xây nhà dựng cửa nên mua vôi về để làm nhà.

Ngày xưa các cụ hay ăn trầu, trầu phải có vôi mới nồng nàn nên ngày xuân có miếng trầu đậm đà mời nhau thêm phần vui vẻ. Vôi luôn màu trắng (bạc như vôi) nên mua vôi vào những ngày cuối năm còn là khát vọng tống tiễn đi cái xúi quẩy, cái bạc bẽo, cái không may. Còn muối mặn mà là may mắn, là tình cảm chứa chan gắn kết bền lâu nên “đầu năm mua muối” là mong muốn, là khát vọng về sự may mắn, về tình cảm yêu thương. Ẩn sau cả câu phương ngôn này là lời nhắn nhủ thâm thuý: nếu đầu năm biết dè sẻn (cơm muối thôi) thì cuối năm có thể xây nhà (vôi là vật liệu chính để xây nhà) được.

Không chỉ “đầu năm mua muối” mà trong hôn nhân, khởi đầu cũng là muối. Sách “Lĩnh Nam chích quái” còn ghi lại phong tục hôn nhân thời Hùng Vương: “Khi chưa có trầu cau, việc hôn thú giữa nam và nữ thì trước lấy gói muối (hay nắm đất) làm đầu, sau đó mới giết trâu, giết dê để làm đồ lễ, lấy cơm nếp để nhập phòng cùng ăn, sau đó mới thành thân”. Thật ý nghĩa, “muối” tượng trưng cho tình cảm vợ chồng mặn nồng, chung thuỷ; “đất” tượng trưng cho gia sản nhà cửa đất đai, cho sự gắn bó mãi mãi…

Với người Nhật Bản thì muối là biểu trưng cho tình nghĩa anh em mặn mà như muối vậy. Câu chuyện cổ tích “Cái cối xay muối” có cái vỏ là sự lý giải vì sao nước biển mặn nhưng cái lõi triết lý về tình ruột thịt máu mủ. Nhà nọ cha mẹ mất sớm, hai anh em trai sống với nhau. Người anh ích kỷ lại lười biếng. Người em bỏ đi được vị thần cho cái cối xay khi xay cho ra những thứ mình cần. Người anh tìm cách chiếm cái cối rồi đưa lên cái thuyền ra thật xa ngoài đại dương để không một ai nhòm ngó. Khi cần muối anh ta bắt cối xay nhưng không biết cách làm cối dừng lại. Cối cứ xay xay mãi, thuyền chìm, người anh cũng chết. Từ đấy biển luôn mặn là để làm đậm đà thêm nữa tình cảm của con người.

Muối rất quý và thiêng liêng nên người Hy Lạp cổ, người Do Thái, người Ả Rập xưa quan niệm trong các lễ hiến tế bắt buộc phải có muối. Dựa vào đặc tính muối là sự lắng lại, kết tinh của nước biển nên muối còn là biểu trưng cho tình bạn quý mến, cho lòng thành, cho lời hứa, cho sự hiếu khách… Phái Thần đạo (cổ) của người Nhật Bản bắt buộc các đạo sỹ phải tắm nước muối (biển) trước khi hành lễ.

Bánh tro cổ truyền.
Bánh tro cổ truyền.

Quan niệm muối có thể xua đuổi điều xấu mang lại điều tốt mà hiện nay một số nơi của Nhật Bản vẫn có tục hàng ngày rắc muối lên ngưỡng cửa nhà. Các võ sĩ Sumô thường rắc muối lên võ đài cầu mong trận đấu diễn ra suôn sẻ, trung thực. Dân tộc Séc có thần thoại “Muối quý hơn vàng” kể một ông vua nọ rất quý vàng nên cầu ước thần linh biến muối trong vương quốc của ông thành vàng.

“Cầu được ước thấy”, nhà vua hãnh diện với thần dân vì nhờ mình mà mọi người trở nên giàu có. Nhưng chỉ được một hôm, mọi người, kể cả vua không chịu được vì thiếu muối. Thế là vua lại phải xin rút lại lời cầu ước. Câu chuyện ngắn gọn về câu chữ mà rộng dài về ý nghĩa: ở trên đời mọi vật tồn tại đều có ý nghĩa riêng, đừng có ngu ngốc biến vật này thành vật khác. Con người đừng tham lam biến cái rẻ (như muối) thành cái đắt (như vàng).

Nhiều khi cái rẻ về giá cả lại là cái có giá trị trong đời sống…Và lời nhắc nhở đến mọi “quân vương”: đã là vua cai quản dân tình đừng lấy cái tôi của mình bắt mọi người phải theo. Vua phải quan tâm, chú ý đến vật phẩm thiết thực nhất (như muối) trong đời sống hàng ngày của dân!

Cho đến tận hôm nay, với nhiều người Việt, khi cúng lễ xong (nhất là cúng động thổ) thường vãi nhiều muối và gạo ra không gian chung quanh. Thế là rất phí phạm, vừa làm ô nhiễm môi trường vừa làm thức ăn cho chuột bọ có hại. Chỉ nên vãi một ít thôi, vì bản chất của tục này là một nét ý nghĩa nhân văn. Gạo và muối là hai sản vật quý của nghề nông nên dùng để cúng lễ là cách tỏ lòng biết ơn, nhớ ơn và mong được sự phù hộ từ tiên tổ mình, từ thần linh. Vãi ra cũng là để “bố thí” cho những cô hồn lang thang cơ nhỡ được dịp có miếng ăn.

Thế nên không cần vãi nhiều mà cái chính là tấm lòng thành. Dựa vào đặc tính nguyên thuỷ của muối có tính chất bảo vệ (kháng khuẩn) nên người ta cấp cho muối một mã ý nghĩa là để xua đuổi tà ma, uế khí, tục khí… Cũng không cần nhiều, chỉ một ít tượng trưng là đủ.

Muối rất cần thiết cho cơ thể nên không có muối, ở vùng núi cao phải đốt tro tranh lọc lấy nước muối. Đây chính là một thao tác làm bánh tro còn đến tận ngày nay. Bánh tro (bánh gio, bánh ú, bánh nẳng) có thành phần chính là gạo nếp ngâm trong nước tro thường là than lá cây  tre , lá tranh, lá dược liệu, thảo mộc (gọi là nước nẳng) rồi gói lá đem luộc chín.

Theo nhiều tài liệu thì bánh tro có từ thời Hùng Vương. Có thể lý giải bánh này chính là cách ẩm thực thông minh của người xưa trong việc khắc phục cách thiếu muối biển của cư dân nông nghiệp vùng núi. Nên hình thức bánh tro có ở nhiều nước châu Á. Bánh tro Việt Nam rất giống bánh tro Nhật Bản (được gọi là akumaki). Mang trong nó triết lý về sự mặn mà tình cảm mà ở ta bánh tro thường dùng trong các dịp lễ tết trang nghiêm, thành kính.

“Đầu năm mua muối…” còn là sự nhắc nhở mọi người làm việc gì cũng phải có kế hoạch từ đầu năm, sắp đặt từ việc nhỏ, cái nhỏ (như muối) đến việc lớn, trọng đại (như mua vôi).

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

“Màu dân tộc” trong dòng chảy đương đại

Gần đây, nhiều hoạt động lan tỏa và tôn vinh những giá trị văn hóa truyền thống, di sản mang đậm sắc màu dân tộc như vẻ đẹp của tranh Đông Hồ đã thu hút sự quan tâm của giới trẻ...

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Phá án ma túy bằng sự tỉnh táo và nhân văn

Vừa lên sóng những tập đầu tiên, bộ phim truyền hình “Lửa trắng” đã thu hút sự quan tâm của đông đảo khán giả. Từ việc khai thác cuộc đấu tranh chống tội phạm ma túy trong thời đại số, bộ phim khắc họa chân dung người chiến sĩ CAND với sự dũng cảm, bản lĩnh và trí tuệ cùng những thông điệp nhân văn sâu sắc.

Hoạt hình Việt ra thế giới

Hoạt hình Việt ra thế giới

Lần đầu tiên, một bộ phim hoạt hình dài của Việt Nam "Trạng Quỳnh nhí: Truyền thuyết Kim Ngưu" được mời tham dự Annecy International Animation Film Festival - liên hoan phim hoạt hình lớn nhất hành tinh. Theo đạo diễn Trịnh Lâm Tùng, đây là cơ hội để những người làm hoạt hình Việt Nam được cất lên tiếng nói của mình, được giới thiệu những giá trị văn hóa mà chúng ta đã gìn giữ qua biết bao thế hệ.

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Bước tiến của Điện ảnh Việt tại DANAFF

Đà Nẵng sẽ trở thành tâm điểm của điện ảnh khu vực khi đăng cai "Liên hoan phim châu Á - Đà Nẵng" (DANAFF) lần thứ IV (diễn ra từ ngày 28/6 đến ngày 4/7). Với chủ đề “Nhịp cầu từ châu Á ra thế giới”, DANAFF năm nay được tổ chức quy mô hơn, nhiều hoạt động chuyên sâu hơn và định hướng rõ nét trong việc thúc đẩy công nghiệp điện ảnh Việt Nam hội nhập quốc tế.

Một số tác phẩm của hoạ sĩ Bùi Xuân Phái đã được sử dụng trong nhiều sản phẩm âm nhạc.

Bản quyền tác phẩm hội họa trong sáng tạo đương đại

Mới đây, việc ê-kíp sản xuất MV của ca sĩ Sơn Tùng M-TP sử dụng hình ảnh tác phẩm “Tàn Chỉ” của họa sĩ Lệ Giang không xin phép, cũng như nhiều sản phẩm nghệ thuật, quảng cáo, điện ảnh từng khai thác tranh của các họa sĩ đã đặt ra câu hỏi: Sử dụng tác phẩm hội họa trong sáng tạo nghệ thuật như thế nào, đâu là ranh giới giữa cảm hứng sáng tạo và hành vi xâm phạm bản quyền?

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Nguyễn Đình Khánh - ông Tổ nghề nhiếp ảnh

Từ hơn một thế kỷ trước, cụ Nguyễn Đình Khánh một người con của làng Lai Xá (Hà Nội) đã sớm tiếp cận nghề nhiếp ảnh, mở hiệu ảnh Khánh Ký nổi tiếng trên phố Hàng Da. Cụ đã truyền nghề cho nhiều người cùng làng, tạo nên một cộng đồng thợ ảnh đông đảo, đưa Lai Xá trở thành cái nôi của nghề nhiếp ảnh Việt Nam.

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

Hiện tượng suất chiếu của phim Việt có doanh thu bằng 0

"Sân nhà" đã không còn là lợi thế khi một loạt phim Việt phải sớm rút khỏi phòng vé vì doanh thu thấp. Tự "nâng chuẩn" chất lượng có lẽ là con đường duy nhất nếu phim Việt muốn giữ chân khán giả trong cuộc đua khốc liệt này.

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Phát động cuộc thi viết về “Trang sách & mái trường”

Cuộc thi viết về “Trang sách & Mái trường” không chỉ là hoạt động chào mừng dấu mốc 70 năm của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam mà còn là lời tri ân dành cho các thế hệ thầy cô giáo, học sinh, người làm sách và những người đã góp phần vun đắp tri thức cho đất nước.

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Xây dựng cộng đồng đọc: Để trẻ em lớn lên cùng trang sách

Trong một thế giới mà trẻ em đang bị các thiết bị điện tử chi phối mạnh mẽ như hiện nay, việc làm thế nào để trẻ em có thói quen đọc sách, có cơ hội lớn lên cùng trang sách trong những mùa hè không chỉ là nỗ lực của phụ huynh mà còn cần sự chung tay của cả cộng đồng...

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh: Hành trình tìm “trầm”

Nhà thơ Vân Anh tự bạch: "Suốt một Đời Thơ xin tự nguyện làm một phu trầm để bóc dần vỏ bọc thời gian/ giữa đời ngậm ngải tìm trầm... Nghĩa Nhân". Đây có thể xem là tuyên ngôn tinh thần cho toàn bộ hành trình thơ của Vân Anh.