Một người lặng lẽ sống và viết

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị.

Có lẽ trên dải đất hình chữ S này, hiếm có nơi nào kỳ lạ và giàu trầm tích văn hóa như Sơn Đông - một làng quê nhỏ bé, tĩnh lặng nép mình bên dòng sông, nhưng lại là nơi phát tích của những tâm hồn nghệ sĩ lớn.

Giữa nhịp sống bình dị, Sơn Đông kiêu hãnh khi có tới ba nhà văn, nhà thơ tầm cỡ Trung ương, những cây bút đã khẳng định vị thế vững chãi trên văn đàn và từ lâu đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam: Nhà thơ Quang Chuyền, nhà văn Quách Liêu và nhà thơ Trịnh Quốc Thắng. Họ như ba đỉnh núi, ba dòng chảy văn chương cùng khơi nguồn từ một mạch ngầm quê hương nhưng lại mang những sắc thái hoàn toàn riêng biệt.

Một người lặng lẽ sống và viết -0
Nhà văn Quách Liêu.

Xã Sơn Đông, thuộc huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xưa vốn có tên cổ là làng Gốm. Đây là hình mẫu điển hình cho một làng quê Bắc Bộ trù phú và thanh bình, nằm soi mình bên ngã ba sông nơi dòng sông Phó Đáy hòa vào dòng sông Lô oai hùng. Mảnh đất ấy không chỉ lừng danh là quê hương của Tả tướng quân Trần Nguyên Hãn mà còn là biểu tượng của tinh thần hiếu học và truyền thống khoa bảng nghìn đời.

Lịch sử đã ghi danh 13 vị Tiến sĩ của làng được khắc tên trên bia đá vĩnh cửu tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Tiếp nối ngọn lửa trí tuệ ấy, ngày nay Sơn Đông vẫn là mảnh đất địa linh nhân kiệt với hơn 40 tiến sĩ, trong đó có 5 giáo sư và phó giáo sư đang miệt mài cống hiến trên mọi miền Tổ quốc và cả ở nước ngoài. Một trong những người con ưu tú, mang trọn vẹn cốt cách và tâm hồn của làng quê truyền thống ấy chính là nhà văn Quách Liêu.

Quách Liêu sinh năm 1943, lớn lên trong bầu không khí trầm tích ấy. Năm 1964, sau khi tốt nghiệp lớp Văn hóa quần chúng của Bộ Văn hóa, anh tự nguyện xin lên công tác tại vùng cao Tây Bắc. Đó là một quyết định thay đổi cả cuộc đời anh. Suốt 15 năm ròng rã gắn bó với đồng bào các dân tộc thiểu số tại các tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Nghĩa Lộ, Quách Liêu đã sống, đã yêu và đã thấm nhuần cái tình người mộc mạc nơi rẻo cao. Sau này, anh chuyển về Hà Nội công tác tại Đài Truyền hình rồi gắn bó với Đài Tiếng nói Việt Nam cho đến khi nghỉ hưu, nhưng cái chất Tây Bắc vẫn luôn chảy tràn trong huyết quản.

Ban đầu, tôi nghĩ Quách Liêu là người dân tộc vì cái họ Quách vốn phổ biến ở người Thái, người Mường, lại thấy anh công tác trên đất Nghĩa Lộ, viết nhiều về các dân tộc thiểu số. Nhưng không phải. Quách Liêu người Kinh chính gốc, sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học của Làng Gốm.

Ông nội anh thường ru cháu bằng thơ Đường. Bố mẹ anh cùng là nhà giáo nên từ nhỏ anh đã được nghe nhiều câu chuyện cổ, được tiếp xúc những cuốn sách giàu ý nghĩa nhân văn. Trong số 13 vị Tiến sĩ được khắc bia tại Văn Miếu, dòng họ Quách của anh vinh dự có tới 4 người. Đó là một niềm tự hào vô song, nhưng Quách Liêu luôn giữ cho mình thái độ khiêm nhường của một người con xứ sở đầy tự trọng.

Quê hương Tây Bắc dẫn dụ anh vào văn chương bằng vẻ đẹp hoang sơ và tình người thuần hậu. Quách Liêu cho biết, con đường viết văn của anh không bằng phẳng mà trước đó đã phải đi vòng qua khá nhiều thể loại nghệ thuật. Hồi học phổ thông anh mê âm nhạc, tính thi vào trường nhạc nhưng rồi sớm nhận ra mình không có khả năng nên chuyển sang hội họa vì nghĩ cũng có chút hoa tay.

Nhưng rồi hội họa cũng không giúp anh thành công rực rỡ như mong đợi. Căn hộ tập thể trong một con ngõ nhỏ ở Hà Nội nơi anh đang sống còn treo những bức tranh sơn dầu được anh vẽ từ ngày ấy như một kỷ niệm của thời tuổi trẻ đi tìm bản ngã. Cuối cùng anh tìm thấy con đường thích hợp với mình, đó là văn học, rồi niềm vui đó đi theo suốt cuộc đời anh cho đến hôm nay. Văn chương trở thành nơi anh gửi gắm mọi tâm tư, thành "cứu cánh" giúp anh đối diện với những thăng trầm của nhân sinh.

Thiên nhiên, con người, nhất là các em nhỏ miền núi và cuộc sống êm ả nơi núi rừng Tây Bắc từ lúc nào đã đem lại cho anh thêm nhiều sự trong trẻo trong tâm hồn để thành thơ. Bài thơ đầu đời của anh giản dị như hơi thở: "Có nắng, có râm/ mặt trời có ngày còn đi vắng/ gió đứng gió đi/ Có hôm chẳng thấy về/ Trên đồng hay trên nương/ Trời mưa hay nắng/ Hai chúng mình/ Chẳng biết vắng nhau… Em qua suối, suối reo nhắn hỏi/ Em lên rừng gió gọi tên anh".

Bài thơ ấy được in, giúp anh từng phấn khởi để sau đó liên tục có thêm nhiều bài thơ nữa. Nhưng rồi bằng sự nhạy cảm của người cầm bút, anh nhận thấy mình là người Kinh mà lại "giả bộ" viết theo cách nói, cách nghĩ của người dân tộc thì có lẽ không ổn, nên anh quyết định chuyển hẳn sang viết văn xuôi.

Trong cuộc đời văn chương của mình, Quách Liêu từng viết nhiều thể loại: Truyện dài, truyện ngắn, thơ, kịch, tiểu luận, hoạt cảnh, chân dung văn học... Anh được tham dự lớp bồi dưỡng những người viết văn Trẻ khóa ba (1968). Anh viết nhiều trong lĩnh vực văn học thiếu nhi cùng với Trần Hoài Dương, Lê Phương Liên, Định Hải, Văn Hồng... Lĩnh vực này đã mang lại cho anh những thành công vang dội.

Năm 2018, anh tập hợp in lại toàn bộ tác phẩm trong cuốn "Quách Liêu tác phẩm chọn lọc". Anh đã nhận được Giải thưởng của Hội Nhà văn và Trung ương Đoàn (1991), Giải thưởng của NXB Kim Đồng và báo Thiếu niên Tiền Phong (1995)... Ngoài ra, anh còn có vở ca kịch đoạt Huy chương Bạc tại hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc. Quách Liêu là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1998, một vị trí khẳng định sự bền bỉ của một cây bút tận tụy.

Những người đồng nghiệp đi trước và đương chức tại Hội Nhà văn luôn ấn tượng với tác phẩm của anh. Nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: "Truyện ngắn của Quách Liêu thường viết về những con người bình thường như cô gái chạy bàn, thầy giáo, người thợ, những em trẻ miền núi trong trắng và thảo thơm… nhưng truyện của anh luôn đầy ắp tình người, đạo làm người khiến người đọc phải suy nghĩ, khắc khoải".

Nguyễn Quang Thiều nhận xét, sự thấu hiểu lẽ đời và lòng nhân ái rộng lớn đã làm nên tư tưởng các truyện ngắn của Quách Liêu. Còn Nhà thơ Trần Đăng Khoa khẳng định: "Đời một người cầm bút đạt được những thành quả như thế trong công việc lao động sáng tạo, kể cũng đã quý lắm rồi".

Văn chương Quách Liêu cũng giống như tính cách con người anh: không ồn ào, không phô trương, chỉ lặng lẽ cảm thông và chia sẻ với số phận của những con người bình dị. Ngay cả những tên truyện anh đặt cũng toát lên vẻ mộc mạc: "Cô Tiên", "Cây Nọi ước", "Đám rước", "Đôi bạn", "Cho nhà cao cao", "Thằng cu Pẹ", "Bốn gói bim bim"(truyện thiếu nhi); hay "Thêm một nén hương", "Cái vỉ ruồi", "Cô gái chạy bàn", "Cái lý của một người buôn gà", "Người bán xôi chè" (truyện người lớn).

Dù viết cho lứa tuổi nào, tôn chỉ duy nhất của anh vẫn là đem cái Đẹp và cái Thiện đến với con người. Anh viết như một cách gieo những mầm xanh hy vọng vào tâm hồn độc giả, đặc biệt là những độc giả nhỏ tuổi, giúp các em tin vào sự tử tế giữa cuộc đời còn nhiều nhọc nhằn.

Một người lặng lẽ sống và viết -1
Tác phẩm của nhà văn Quách Liêu.

Ngoài đời, Quách Liêu là người hiền lành, điềm đạm, tính chu đáo và cẩn thận trong từng cử chỉ, lối giao tiếp mực thước. Anh vốn là người kiệm lời, ngay cả với người thân thiết nhất. Với Quách Liêu, lời hứa là danh dự; anh đã hứa điều gì là thực hiện một cách chu đáo, vẹn toàn. Anh sống một cuộc đời không tranh giành, không to tiếng. Chính những đức tính ấy đã giữ được sự tin tưởng và kính trọng tuyệt đối của bạn bè và đồng nghiệp suốt hàng chục năm qua.

Cuộc đời riêng của anh cũng có những nốt lặng trầm mặc. Vợ mất sớm, Quách Liêu hiện sống một mình trong căn hộ chung cư cũ, con cái vẫn thường xuyên qua lại chăm lo nhưng anh vẫn giữ cho mình nếp sống chủ động đáng nể. Anh tự lo cơm nước, chợ búa và dành thời gian thăm hỏi bạn bè văn chương. Những lúc thoải mái, anh lại ngồi vào bàn viết.

Hiện tại, anh đang dốc sức hoàn thành cuốn tiểu thuyết về đề tài cải tạo tư sản - một đề tài anh tự nhận là vô cùng "gai góc". Dẫu biết tuổi U90 sức khỏe đã hạn chế, nhưng anh vẫn đau đáu với trang viết. Bởi với anh, viết văn không chỉ là nghề mà đã trở thành "nghiệp" của kiếp người, là hơi thở giúp anh cảm thấy cuộc sống mình vẫn còn ích lợi cho cuộc đời này.

Bây giờ, mỗi khi anh cần gì thì bà con lối xóm hay các chị bán hàng nơi chợ tạm tốt bụng vẫn luôn xăm xắn thăm hỏi, giúp đỡ. Những người bạn văn cũ vẫn thường ghé chơi, cùng nhâm nhi chén trà, bàn chuyện thế thái nhân tình. Tuổi già mà còn sức khỏe, minh mẫn, cuộc sống bình an bên những người hàng xóm tử tế là hạnh phúc lớn. Một người viết sống tử tế và sâu sắc như anh, xứng đáng có được sự bình yên viên mãn nhất ở tuổi xế chiều.

Huy Thắng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.