Một góc nhìn nghệ thuật An Nam

So với các vấn đề lịch sử, văn hóa, tập tục, dân tộc học hay địa lý nhân văn, nghệ thuật An Nam không được các học giả Pháp đầu thế kỉ XX dành quá nhiều bận tâm và nỗ lực khảo cứu kĩ lưỡng. Tuy vậy, mô hình tiếp cận và các quan điểm, nhận định của họ thì vẫn có nhiều điểm khả thủ dành cho độc giả hôm nay muốn tìm hiểu đa chiều hơn về lịch sử nghệ thuật nước nhà.

1. Năm 1933, Henri Gourdon (1876-1943), người từng đảm nhận chức Giám đốc (đầu tiên) của Nha học chính Đông Dương, đã công bố một khảo cứu ngắn có tên “Nghệ thuật xứ An” Nam (L'art de l'Annam). Cuốn sách không hẳn là sự bổ sung nhưng chắc chắn có ý nối tiếp, làm rõ hơn những gì mà học giả trước đó, Léopold Cadière (1869-1955), trình bày một cách công phu trong chuỗi bài nghiên cứu nghệ thuật Huế đăng trên tạp chí Những người bạn cố đô Huế (BAVH) từ tháng 1 - 3 năm 1919.

Cũng giống như Léopold Cadière, H. Gourdon không vội vàng bàn thẳng vào nghệ thuật mà trước tiên dựng lại đôi nét về đất nước, con người và lịch sử An Nam, một bối cảnh mà ông tin rằng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh thành, phát triển và đặc trưng nghệ thuật nơi đây. Việc dựng lại này, tuy thoáng qua và có không ít tri thức cần xem lại, vẫn bắt gặp nhiều chi tiết đáng lưu ý vì nó phần nào thể hiện một nhãn quan dân tộc học khá tinh tế: “công cuộc nam tiến” của người Việt tạo nên sự đa dạng của thành tố không gian; địa vị của phụ nữ An Nam cao hơn hẳn so với các phụ nữ trong các xã hội phương Đông khác; sự phức tạp đến khó hiểu trong tư tưởng tôn giáo của người An Nam sẽ chi phối trực tiếp và mạnh mẽ vào các sản phẩm nghệ thuật, từ kiến trúc (lăng mộ) đến các đồ thủ công mỹ nghệ liên quan đến việc thờ cúng hoặc thực hành tôn giáo.

Tiếp nối quan điểm của Léopold Cadière, H. Gourdon cho rằng đặc điểm chung của nghệ thuật An Nam bắt nguồn từ “nỗi ám ảnh tín ngưỡng”, vì thế, thứ “ngôn ngữ trang trí” trong các đồ thêu, chiếc bình hay một tấm hoành phi, đều “hoàn toàn vay mượn từ nội hàm thần bí của những tín ngưỡng dân gian hoặc những tôn giáo”. Một tư duy nghệ thuật gắn với chức năng nghi lễ, như vậy, sẽ giải thích vì sao truyền thống nghề kim khí, nghề mộc, nghề sơn đôi khi chỉ nằm ở mức độ “thợ” chứ không thể đạt tới tư cách nghệ sĩ độc sáng với cái tôi riêng có của mình.

Từ căn nền chủ nghĩa cá nhân của phương Tây, Gourdon không khỏi ngạc nhiên, thậm chí, có phần nặng lời vì “sự tự nguyện cúi đầu trước các bậc thầy xa xưa” của những người thợ thủ công, khiến nghệ thuật An Nam “chủ yếu mang tính vô danh” và bản thân ông “không tìm thấy tác phẩm nào có ký tên tác giả”.

Gourdon cũng nhắc lại một lý do xác đáng cho vấn đề này: thợ thủ công giỏi thường bị triều đình tuyển mộ một cách độc đoán. Trong trường hợp đó, người thợ coi như bị kết án lao động suốt đời, phải tuân theo kỷ luật như binh lính, không được phép phàn nàn khi bị thất sủng. Hoàn cảnh phải che giấu tên tuổi như thế, theo Gourdon, gây khó khăn cho việc phân loại “các trường phái và xác định các phong cách”, nhất là khi dữ kiện và tư liệu để nghiên cứu nghệ thuật An Nam vào thời điểm đó (đầu thập niên 1930) mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu.

Một góc nhìn nghệ thuật An Nam -0
Hai khảo cứu của người Pháp về nghệ thuật Việt Nam: “Nghệ thuật xứ An Nam” của
H. Gourdon và “Nghệ thuật Huế” của Léopold Cadière và Edmond Gras.

2. Là một nhà giáo dục, H. Gourdon chắc không có tham vọng mô tả và phân tích trọn vẹn nghệ thuật An Nam. Tuy vậy ông vẫn đưa ra mô hình tiếp cận khá bài bản, hợp lí: đi từ kiến trúc bởi nó là “nền tảng để những môn nghệ thuật khác phái sinh”, đến điêu khắc và hội họa và dừng lại ở nghề thủ công mỹ nghệ.

Trong kiến trúc An Nam, Gourdon đặc biệt chú ý đến kiến trúc quân sự (điển hình như thành nhà Hồ và thành Đồng Hới), cung điện, kiến trúc tôn giáo và lăng mộ. Vì chú mục vào “sự tồn tại” nên ông chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực Huế (với 140 công trình và địa điểm thờ cúng thống kê được), và tỏ tiếc nuối vì “sự vắng bóng những công trình cổ” ở các vùng khác.

Phạm vi thực địa không lớn nên gây cảm giác chưa kĩ lưỡng ở vài hạng mục (chẳng hạn, phần viết về kiến trúc dân sự “nhà ở” không chi tiết bằng một học giả Pháp cùng thời là Pierre Gourou trong công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, 1936). Nhưng nhìn tổng thể, Gourdon vẫn có những quan sát, phát hiện sắc sảo, hấp dẫn. Đó là khi ông bình phẩm về điêu khắc và hội họa thường khai thác từ “những chủ đề quan thuộc được rút ra từ các điển tích”; thợ điêu khắc tượng thì “óc sáng tạo rất tốt đối với những con vật tưởng tượng”; nghề khảm trai là nghề “đạt đến mức hoàn thiện”. Gourdon đặc biệt chú ý các vật liệu sử dụng tuy “khiêm nhường” nhưng rất hiệu quả khi chế tác: tre, cói, giấy dó, da trâu… Chúng góp phần tạo ra đặc tính bản địa trong các sản phẩm thoạt tiên tưởng tầm thường, nhỏ bé.

Nếu đồng ý với H. Gourdon, chúng ta có thể tự hào về một số nghề thủ công mỹ nghệ giàu tính nghệ thuật vẫn còn duy trì đến hôm nay. Chẳng hạn như nghề khảm trai. Đây là công việc mang tính cá nhân rất cao. Khác với các thợ thủ công trang trí đình chùa thường phải tuân theo những khuôn mẫu có sẵn, thợ khảm trai (vốn cung cấp mặt hàng cho “dân chơi” lắm tiền nhiều của) có thể tung tẩy trổ tài, thêm bớt màu sắc, đường nét và thần thái, bố cục khi chế tác.

Tương tự, khi Gourdon ấn tượng với những pho tượng tạc chân dung “những vị sư trụ trì quá cố” thì có thể thấy tay nghề của người thợ ở đây đã chủ động, tự do hơn. Họ không còn bị ràng buộc vào quy chuẩn làm tượng có tính ước lệ (để đặt trong gian thờ) mà hướng đến sự đơn giản, chân thật dựa trên hình mẫu sống hoặc theo trí nhớ. Tuy nhiên, đúng như H. Gourdon cảm nhận, các sản phẩm hội họa (theo nghĩa là những sáng tạo của một cá nhân xác thực như trong hội họa phương Tây) thì không tồn tại trong lịch sử An Nam ngay cả khi dòng tranh dân gian phát triển đa dạng.

Lý do có thể vì môi trường khí hậu có độ ẩm lớn và không gian tôn giáo (chùa, đình, đền) không có chỗ cho treo tranh đã tước mất năng khiếu hội họa của người thợ. Hơn nữa, để có một nền hội họa phát triển, các điều kiện kinh tế và chính trị cũng phải ổn định, bền vững trong khi quá trình tạo dựng quốc gia Việt thời trung đại lại có quá nhiều biến động, thiên tai địch họa.

Như để nhấn mạnh tầm quan trọng của người Pháp, H. Gourdon đã chỉ ra những biến đổi tích cực sau khi nghệ thuật truyền thống được gặp gỡ, tiếp xúc với phương Tây. Nổi bật hơn cả là các bảo tàng được thành lập để tiếp nhận những tác phẩm đẹp nhất, ngăn chặn thất thoát những món đồ giá trị; bộ máy hành chính Pháp khuyến khích, chăm chút thợ thủ công, tạo cho họ những thị trường tiêu thụ mới. Và không thể bỏ qua Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với mục đích truyền đạt, diễn giải tư duy kiểu Pháp đến nghệ sĩ bản xứ. Là người chứng kiến những thành tựu bước đầu của ngôi trường này, Gourdon đã chốt lại cuốn sách bằng niềm tin “vào sự hình thành một trường phái An Nam thực thụ với những xu hướng và cách thức thể hiện riêng”.

3. Mang tính cách giới thiệu, dẫn nhập nhưng “Nghệ thuật xứ An Nam” nhanh chóng trở thành tài liệu tham khảo cho các trí thức Việt Nam bấy giờ, đặc biệt trong hai công trình vang danh là “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) và “Văn minh Việt Nam” (1944). Đào Duy Anh không chỉ trích nguyên nhiều nhận định mà còn triển khai rõ thêm một số ý của Gourdon. Chẳng hạn, về tình trạng quanh quẩn trong phạm vi chật hẹp và tính chất tôn giáo, Đào Duy Anh cho rằng “nước ta là một nước nghèo, sự sinh hoạt của người thường không thể kích thích nghệ thuật được, mà các bậc vua chúa công khanh đối với nhà nghề lại chỉ một mặt áp chế, cho nên nghệ thuật phải xoay về tôn giáo để sống trong cái hoàn cảnh siêu tự nhiên đầy những điều bó buộc”.

Còn Nguyễn Văn Huyên, trong công trình kinh điển “Văn minh Việt Nam”, dù chỉ dành dung lượng rất nhỏ để bàn về nghệ thuật, nhưng cũng đã chỉ ra nét cơ bản của nó và một lần nữa, nhấn mạnh “họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ là một người phụ trợ của kiến trúc sư. Nền kiến trúc này chủ yếu có tính chất tôn giáo”. Rõ ràng, đã có một sự cộng hưởng giữa các học giả bản xứ và ngoại quốc. Từ đó, rộng hơn, những tương tác học thuật đóng vai trò chìa khóa quan trọng để thúc đẩy sự thông hiểu lẫn nhau về văn hóa.

Ngày nay đọc lại, cuốn sách của H. Gourdon vẫn nhắc nhở chúng ta nhiều điều. Đáng chú ý là thói quen “dễ dàng chấp nhận phá bỏ các công trình cũ để lấy vật liệu tái sử dụng cho công trình mới” mà chúng ta không khó kiểm chứng trong cái gọi là trùng tu di tích hiện nay. Không có tư duy và phương pháp trùng tu đúng đắn, như Gourdon cảnh báo, sẽ gây hại rất lớn đến nghệ thuật kiến trúc. Thứ nữa, nghệ nhân An Nam cũng rất dễ mủi lòng và nhanh chóng chạy theo các gu thẩm mỹ lai tạp một khi các sản phẩm được hàng hóa hóa. Bản tính “năng nhặt chặt bị” hàng xén ấy khiến nghệ thuật truyền thống, điều chúng ta lấy làm tự hào và kêu gọi phục dựng, đang bị manh mún trong các cửa hiệu đồ lưu niệm khắp chốn.

Sau hết và là điều khiến tôi thắc mắc rằng tại sao xã hội ngày càng chạy đua làm những vật phẩm “hoành tráng”, “siêu to khổng lồ” (từ món bánh chưng, bánh dày trở đi) để thiết lập kỷ lục, trong khi, như Gourdon tỏ lòng ngưỡng mộ, người Việt chỉ tôn thờ sự khéo léo, trau chuốt, sự tỉ mẩn, độ khó của hình mẫu ở các vật phẩm cỡ nhỏ và vừa. Liệu chúng ta có đang ham hố chứng thực một điều gì ngoài tầm với năng lực và sở trường của mình không?

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?