Một góc nhìn nghệ thuật An Nam

So với các vấn đề lịch sử, văn hóa, tập tục, dân tộc học hay địa lý nhân văn, nghệ thuật An Nam không được các học giả Pháp đầu thế kỉ XX dành quá nhiều bận tâm và nỗ lực khảo cứu kĩ lưỡng. Tuy vậy, mô hình tiếp cận và các quan điểm, nhận định của họ thì vẫn có nhiều điểm khả thủ dành cho độc giả hôm nay muốn tìm hiểu đa chiều hơn về lịch sử nghệ thuật nước nhà.

1. Năm 1933, Henri Gourdon (1876-1943), người từng đảm nhận chức Giám đốc (đầu tiên) của Nha học chính Đông Dương, đã công bố một khảo cứu ngắn có tên “Nghệ thuật xứ An” Nam (L'art de l'Annam). Cuốn sách không hẳn là sự bổ sung nhưng chắc chắn có ý nối tiếp, làm rõ hơn những gì mà học giả trước đó, Léopold Cadière (1869-1955), trình bày một cách công phu trong chuỗi bài nghiên cứu nghệ thuật Huế đăng trên tạp chí Những người bạn cố đô Huế (BAVH) từ tháng 1 - 3 năm 1919.

Cũng giống như Léopold Cadière, H. Gourdon không vội vàng bàn thẳng vào nghệ thuật mà trước tiên dựng lại đôi nét về đất nước, con người và lịch sử An Nam, một bối cảnh mà ông tin rằng đã ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh thành, phát triển và đặc trưng nghệ thuật nơi đây. Việc dựng lại này, tuy thoáng qua và có không ít tri thức cần xem lại, vẫn bắt gặp nhiều chi tiết đáng lưu ý vì nó phần nào thể hiện một nhãn quan dân tộc học khá tinh tế: “công cuộc nam tiến” của người Việt tạo nên sự đa dạng của thành tố không gian; địa vị của phụ nữ An Nam cao hơn hẳn so với các phụ nữ trong các xã hội phương Đông khác; sự phức tạp đến khó hiểu trong tư tưởng tôn giáo của người An Nam sẽ chi phối trực tiếp và mạnh mẽ vào các sản phẩm nghệ thuật, từ kiến trúc (lăng mộ) đến các đồ thủ công mỹ nghệ liên quan đến việc thờ cúng hoặc thực hành tôn giáo.

Tiếp nối quan điểm của Léopold Cadière, H. Gourdon cho rằng đặc điểm chung của nghệ thuật An Nam bắt nguồn từ “nỗi ám ảnh tín ngưỡng”, vì thế, thứ “ngôn ngữ trang trí” trong các đồ thêu, chiếc bình hay một tấm hoành phi, đều “hoàn toàn vay mượn từ nội hàm thần bí của những tín ngưỡng dân gian hoặc những tôn giáo”. Một tư duy nghệ thuật gắn với chức năng nghi lễ, như vậy, sẽ giải thích vì sao truyền thống nghề kim khí, nghề mộc, nghề sơn đôi khi chỉ nằm ở mức độ “thợ” chứ không thể đạt tới tư cách nghệ sĩ độc sáng với cái tôi riêng có của mình.

Từ căn nền chủ nghĩa cá nhân của phương Tây, Gourdon không khỏi ngạc nhiên, thậm chí, có phần nặng lời vì “sự tự nguyện cúi đầu trước các bậc thầy xa xưa” của những người thợ thủ công, khiến nghệ thuật An Nam “chủ yếu mang tính vô danh” và bản thân ông “không tìm thấy tác phẩm nào có ký tên tác giả”.

Gourdon cũng nhắc lại một lý do xác đáng cho vấn đề này: thợ thủ công giỏi thường bị triều đình tuyển mộ một cách độc đoán. Trong trường hợp đó, người thợ coi như bị kết án lao động suốt đời, phải tuân theo kỷ luật như binh lính, không được phép phàn nàn khi bị thất sủng. Hoàn cảnh phải che giấu tên tuổi như thế, theo Gourdon, gây khó khăn cho việc phân loại “các trường phái và xác định các phong cách”, nhất là khi dữ kiện và tư liệu để nghiên cứu nghệ thuật An Nam vào thời điểm đó (đầu thập niên 1930) mới chỉ ở giai đoạn khởi đầu.

Một góc nhìn nghệ thuật An Nam -0
Hai khảo cứu của người Pháp về nghệ thuật Việt Nam: “Nghệ thuật xứ An Nam” của
H. Gourdon và “Nghệ thuật Huế” của Léopold Cadière và Edmond Gras.

2. Là một nhà giáo dục, H. Gourdon chắc không có tham vọng mô tả và phân tích trọn vẹn nghệ thuật An Nam. Tuy vậy ông vẫn đưa ra mô hình tiếp cận khá bài bản, hợp lí: đi từ kiến trúc bởi nó là “nền tảng để những môn nghệ thuật khác phái sinh”, đến điêu khắc và hội họa và dừng lại ở nghề thủ công mỹ nghệ.

Trong kiến trúc An Nam, Gourdon đặc biệt chú ý đến kiến trúc quân sự (điển hình như thành nhà Hồ và thành Đồng Hới), cung điện, kiến trúc tôn giáo và lăng mộ. Vì chú mục vào “sự tồn tại” nên ông chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực Huế (với 140 công trình và địa điểm thờ cúng thống kê được), và tỏ tiếc nuối vì “sự vắng bóng những công trình cổ” ở các vùng khác.

Phạm vi thực địa không lớn nên gây cảm giác chưa kĩ lưỡng ở vài hạng mục (chẳng hạn, phần viết về kiến trúc dân sự “nhà ở” không chi tiết bằng một học giả Pháp cùng thời là Pierre Gourou trong công trình Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ, 1936). Nhưng nhìn tổng thể, Gourdon vẫn có những quan sát, phát hiện sắc sảo, hấp dẫn. Đó là khi ông bình phẩm về điêu khắc và hội họa thường khai thác từ “những chủ đề quan thuộc được rút ra từ các điển tích”; thợ điêu khắc tượng thì “óc sáng tạo rất tốt đối với những con vật tưởng tượng”; nghề khảm trai là nghề “đạt đến mức hoàn thiện”. Gourdon đặc biệt chú ý các vật liệu sử dụng tuy “khiêm nhường” nhưng rất hiệu quả khi chế tác: tre, cói, giấy dó, da trâu… Chúng góp phần tạo ra đặc tính bản địa trong các sản phẩm thoạt tiên tưởng tầm thường, nhỏ bé.

Nếu đồng ý với H. Gourdon, chúng ta có thể tự hào về một số nghề thủ công mỹ nghệ giàu tính nghệ thuật vẫn còn duy trì đến hôm nay. Chẳng hạn như nghề khảm trai. Đây là công việc mang tính cá nhân rất cao. Khác với các thợ thủ công trang trí đình chùa thường phải tuân theo những khuôn mẫu có sẵn, thợ khảm trai (vốn cung cấp mặt hàng cho “dân chơi” lắm tiền nhiều của) có thể tung tẩy trổ tài, thêm bớt màu sắc, đường nét và thần thái, bố cục khi chế tác.

Tương tự, khi Gourdon ấn tượng với những pho tượng tạc chân dung “những vị sư trụ trì quá cố” thì có thể thấy tay nghề của người thợ ở đây đã chủ động, tự do hơn. Họ không còn bị ràng buộc vào quy chuẩn làm tượng có tính ước lệ (để đặt trong gian thờ) mà hướng đến sự đơn giản, chân thật dựa trên hình mẫu sống hoặc theo trí nhớ. Tuy nhiên, đúng như H. Gourdon cảm nhận, các sản phẩm hội họa (theo nghĩa là những sáng tạo của một cá nhân xác thực như trong hội họa phương Tây) thì không tồn tại trong lịch sử An Nam ngay cả khi dòng tranh dân gian phát triển đa dạng.

Lý do có thể vì môi trường khí hậu có độ ẩm lớn và không gian tôn giáo (chùa, đình, đền) không có chỗ cho treo tranh đã tước mất năng khiếu hội họa của người thợ. Hơn nữa, để có một nền hội họa phát triển, các điều kiện kinh tế và chính trị cũng phải ổn định, bền vững trong khi quá trình tạo dựng quốc gia Việt thời trung đại lại có quá nhiều biến động, thiên tai địch họa.

Như để nhấn mạnh tầm quan trọng của người Pháp, H. Gourdon đã chỉ ra những biến đổi tích cực sau khi nghệ thuật truyền thống được gặp gỡ, tiếp xúc với phương Tây. Nổi bật hơn cả là các bảo tàng được thành lập để tiếp nhận những tác phẩm đẹp nhất, ngăn chặn thất thoát những món đồ giá trị; bộ máy hành chính Pháp khuyến khích, chăm chút thợ thủ công, tạo cho họ những thị trường tiêu thụ mới. Và không thể bỏ qua Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương với mục đích truyền đạt, diễn giải tư duy kiểu Pháp đến nghệ sĩ bản xứ. Là người chứng kiến những thành tựu bước đầu của ngôi trường này, Gourdon đã chốt lại cuốn sách bằng niềm tin “vào sự hình thành một trường phái An Nam thực thụ với những xu hướng và cách thức thể hiện riêng”.

3. Mang tính cách giới thiệu, dẫn nhập nhưng “Nghệ thuật xứ An Nam” nhanh chóng trở thành tài liệu tham khảo cho các trí thức Việt Nam bấy giờ, đặc biệt trong hai công trình vang danh là “Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) và “Văn minh Việt Nam” (1944). Đào Duy Anh không chỉ trích nguyên nhiều nhận định mà còn triển khai rõ thêm một số ý của Gourdon. Chẳng hạn, về tình trạng quanh quẩn trong phạm vi chật hẹp và tính chất tôn giáo, Đào Duy Anh cho rằng “nước ta là một nước nghèo, sự sinh hoạt của người thường không thể kích thích nghệ thuật được, mà các bậc vua chúa công khanh đối với nhà nghề lại chỉ một mặt áp chế, cho nên nghệ thuật phải xoay về tôn giáo để sống trong cái hoàn cảnh siêu tự nhiên đầy những điều bó buộc”.

Còn Nguyễn Văn Huyên, trong công trình kinh điển “Văn minh Việt Nam”, dù chỉ dành dung lượng rất nhỏ để bàn về nghệ thuật, nhưng cũng đã chỉ ra nét cơ bản của nó và một lần nữa, nhấn mạnh “họa sĩ và nhà điêu khắc chỉ là một người phụ trợ của kiến trúc sư. Nền kiến trúc này chủ yếu có tính chất tôn giáo”. Rõ ràng, đã có một sự cộng hưởng giữa các học giả bản xứ và ngoại quốc. Từ đó, rộng hơn, những tương tác học thuật đóng vai trò chìa khóa quan trọng để thúc đẩy sự thông hiểu lẫn nhau về văn hóa.

Ngày nay đọc lại, cuốn sách của H. Gourdon vẫn nhắc nhở chúng ta nhiều điều. Đáng chú ý là thói quen “dễ dàng chấp nhận phá bỏ các công trình cũ để lấy vật liệu tái sử dụng cho công trình mới” mà chúng ta không khó kiểm chứng trong cái gọi là trùng tu di tích hiện nay. Không có tư duy và phương pháp trùng tu đúng đắn, như Gourdon cảnh báo, sẽ gây hại rất lớn đến nghệ thuật kiến trúc. Thứ nữa, nghệ nhân An Nam cũng rất dễ mủi lòng và nhanh chóng chạy theo các gu thẩm mỹ lai tạp một khi các sản phẩm được hàng hóa hóa. Bản tính “năng nhặt chặt bị” hàng xén ấy khiến nghệ thuật truyền thống, điều chúng ta lấy làm tự hào và kêu gọi phục dựng, đang bị manh mún trong các cửa hiệu đồ lưu niệm khắp chốn.

Sau hết và là điều khiến tôi thắc mắc rằng tại sao xã hội ngày càng chạy đua làm những vật phẩm “hoành tráng”, “siêu to khổng lồ” (từ món bánh chưng, bánh dày trở đi) để thiết lập kỷ lục, trong khi, như Gourdon tỏ lòng ngưỡng mộ, người Việt chỉ tôn thờ sự khéo léo, trau chuốt, sự tỉ mẩn, độ khó của hình mẫu ở các vật phẩm cỡ nhỏ và vừa. Liệu chúng ta có đang ham hố chứng thực một điều gì ngoài tầm với năng lực và sở trường của mình không?

Mai Anh Tuấn

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.