Mộng tình trên sông Tiêu Tương

Cửa nguồn là sông Đuống, dòng sông Tiêu Tương, hay còn gọi là Tiêu Giang xưa chảy qua đất kinh Bắc, uốn khúc quanh co. Nó đổ qua miền đất Đình Bảng, rồi rẽ về ngã ba Phù Lưu (Từ Sơn), sau đó trôi về Lim, rồi Xuân, Ô... Cuối cùng mới nhập vào sông Cầu. Nếu theo bản đồ cổ, Tiêu Tương còn đẻ ra một nhánh hút về chân núi Phật Tích (Tiên Du). Bởi vậy, Tiêu Tương đẹp như bức tranh họa đồ, dịu dàng thơ mộng.

Chuyện tình Mỵ Nương với chàng Trương Chi

Khi tôi về tới vùng hồ sen xã Tương Giang, Từ Sơn, Bắc Ninh thì được nghe các cụ kể chuyện mối tình Trương Chi trên sông Tiêu Tương chạy qua nơi đây. Hiện những hồ sen kéo dài chính là phần còn sót lại của sông Tiêu Tương chạy dọc xã Tiêu Giang. Con sông xưa chỉ tồn tại trong quá khứ. Hình ảnh của nó luôn gắn với mối tình của người vạn chài nghèo Trương Chi với nàng công chúa Mỵ Nương. Nhiều đoạn sông còn hiện diện dọc trên con quốc lộ A1 cũ.

Đến bất cứ đâu người dân cũng kể được bi kịch tình yêu này. Chuyện rằng: “Ngày xưa có anh Trương Chi. Người thì thậm xấu, hát thì thậm hay. Cô Mỵ Nương ở Lầu tây. Con quan thừa tướng ngày ngày cấm cung. Trương Chi chở đò ngoài sông. Cất lên tiếng hát động lòng Mỵ Nương…”. Tôi lang thang dọc khúc sông, hiện cũng là đầm sen của làng Đình Bảng, gặp bà Xuân bán bánh Phu Thê nổi tiếng trong làng. Bà chỉ cho tôi ra tận một cửa sông, kề xóm Bà La.

Bà kể, nơi đó chính là khúc sông sâu mà Trương Chi đã trầm mình tự tử, vì mình quá xấu không được Mỵ Nương yêu thương. Nàng chỉ yêu tiếng hát của chàng thôi. Người dân cố tìm chàng dưới lòng sông, nhưng thân xác đã tan rữa, thương xót khôn nguôi. Cuối cùng họ vớt lên được một trái tim đã kết lại thành một khối ngọc trong vắt.

Toàn cảnh chùa Tiêu.
Toàn cảnh chùa Tiêu.

Dòng sông Tiêu Tương nổi sóng khóc than cho thân phận xấu xí của chàng lái đò. Giọng hát của chàng đã mất đi nhưng để lại nỗi tương tư sầu muộn cho Mỵ Nương. Nàng đã lấy khối ngọc trái tim của chàng làm chiếc chén uống nước. Đó là ký ức mộng tưởng về một cuộc tình. Nhưng ngày ngày, hình ảnh Trương Chi lại hiện về quanh đáy cốc, mỗi khi Mỵ Nương uống nước. Tiếng hát của chàng vang vọng đâu đây. Nàng nhỏ lệ nhớ thương.

Những giọt nước mắt của nàng đã làm tan chén ngọc rớt xuống dòng sông. Đó là những giọt tình được trao cho nhau ở chốn cửu trùng. Cõi vô thường bất tử. Đó là tình yêu. Tình yêu của nàng đã cùng Trương Chi hóa kiếp nơi tuyền đài. Giọng hát của Trương Chi đã được lưu truyền cho bao đời sau trở thành những làn điệu quan họ cho hàng chục làng xã xung quanh đồi Lim.

Người ta kể, chính lầu tây mà Mỵ Nương ngồi bên sông Tiêu Tương, nằm ngay trên đồi Hồng Vân (đồi Lim). Khi đến đây, tôi sực nhớ đến bản nhạc “Trương Chi” của cố nhạc sĩ Văn Cao. Lời ca buồn như những làn điệu quan họ vậy. Tràn đầy nỗi nhớ: “Đò trăng giữa dòng sông vắng. Gió đưa câu ca về đâu? Nhìn xuống đáy nước sông sâu. Thuyền anh đã chìm đâu. Thương khúc nhạc xa vời…”.

Phải chăng hội Lim thường vào ngày chính, 13 tháng Giêng hàng năm, cũng bởi phát nguồn từ mối tình này. Liền anh, liền chị lúng liếng bên nhau, hẹn hò nhung nhớ. Mộng mị với những lời ca giọng hát ngọt ngào. Ngỡ như mối tơ duyên đã kề bên. Giọng hát làm quyến rũ tâm hồn người.

Tưởng rằng có thể yêu ngay đấy. Hẹn non thề biển. Nhưng rồi lại tan biến như chiếc chén ngọc của Mỵ Nương. Các anh Hai, chị Hai khó nên vợ nên chồng, mà chỉ dan díu qua giọng hát, với nỗi buồn xa xăm. Ra về trong bịn rịn vấn vương. Lại một mùa xuân sau, hẹn trao cho nhau miếng trầu cánh phượng, hát cho nhau nghe. Dùng dằng nửa tỉnh nửa mê hội làng…

Vẫn còn đó một mối tình đầy bí ẩn

Nếu ai về chùa Tiêu, trên núi Tiêu (xã Tiêu Giang), hẳn sẽ yêu đầm sen thơm ngát. Đó cũng là một đoản khúc sông Tiêu Tương. Ngôi chùa nổi tiếng khi nói không với “Hòm công đức”. Đó là sự khác biệt. Phật tử đến đây chỉ có chiêm bái, dâng hương, học phật. Từ xa xưa chùa đã không đặt hòm công đức. Các ni cô ở đây thường hái thị chín trên chùa đem ra chợ bán để mua hương lễ. Trên núi có năm cây thị lớn xum xuê ra quả quanh năm.

Tôi gặp những câu thơ, câu đối của các thiền sư nơi đây, mới hiểu ra phần nào câu chuyện của đại sư Lý Vạn Hạnh, người đã tu hành và truyền dạy Phật pháp tại ngôi chùa này. Nhưng có lẽ còn một câu chuyện gắn với truyền thuyết ngàn năm còn bí ẩn cho đến ngày nay. Đó là chuyện đại sư Lý Vạn Hạnh đã nuôi, dạy một đứa bé trai bị bỏ rơi, nơi cửa chùa. 

Chuyện rằng, từ năm 959, thiền sư Lý Vạn Hạnh, người làng Đình Bảng mới 21 tuổi đã xuất gia, tu học tại chùa. Sau mươi năm tu luyện, ngài đã thể hiện một phong độ kiệt xuất, với học vấn Phật pháp sâu sắc hơn người.

Đặc biệt ngài còn giỏi cả về binh pháp, với con mắt chiến lược, nhìn xa trông rộng cho đất nước. Cùng tu học với ngài còn có người em tên là Lý Khánh Văn. Thiền sư Lý Khánh Văn cũng nhanh chóng thông tuệ và được trụ trì chùa Cổ Pháp (còn có tên nôm là chùa Dận). Chùa Tiêu và chùa Cổ Pháp đều nằm bên sông Tiêu Tương, chếch bên tả bên hữu, cách nhau chừng dăm cây số. 

Lại chuyện rằng, năm 974, có một người đàn bà lén đến bỏ đứa con rơi bên cổng tam quan chùa Cổ Pháp. Nghe tiếng trẻ khóc, thiền sư Lý Khánh Văn vội vàng đi ra, thấy vậy ôm đứa trẻ tội nghiệp vào trong nhà. Ngài nhận làm con nuôi và đặt tên là Lý Công Uẩn. Nhận ra một khí chất khác thường ở người con nuôi thông minh sáng dạ này, thiền sư Lý Khánh Văn liền gửi Lý Công Uẩn lên chùa Tiêu, để Lý Vạn Hạnh dạy dỗ.

Khi ấy cậu bé mới lên năm. Ngày qua ngày. Năm qua năm. Lý Công Uẩn trở thành chàng trai khôi ngô tuấn tú, văn võ song toàn, và được Lý Vạn Hạnh tiến cử vào triều Lê. Sự nghiệp ngày một thăng tiến. Mười lăm năm sau, Lý Công Uẩn lên ngôi vua, gây dựng nên nhà Lý, niên hiệu là Thuận Thiên, với danh xưng Lý Thái Tổ vào năm 1010. Ngay sau đó, Lý Thái Tổ rời đô về Thăng Long cũng có phần công đóng góp của đại sư Lý Vạn Hạnh.

Hồ trước chùa Tiêu là khúc sông Tiêu Tương còn lại ở xã Tương Giang.
Hồ trước chùa Tiêu là khúc sông Tiêu Tương còn lại ở xã Tương Giang.

Trong dân gian, nhiều lời đồn đoán mông lung về người cha đẻ của Lý Công Uẩn là ai. Bởi sau khi vua Lý lên ngôi, câu hỏi này lại càng gây tò mò trong thiên hạ về nguồn gốc vua cha. Mãi sau này, dân làng quanh vùng mới xác định được người mẹ đã sinh ra Lý Công Uẩn. Đó là bà Phạm Thị Ngà, người ở Dương Lôi, xã kế bên. Nhưng vì sao bà lại nỡ tâm đem bỏ đứa con sơ sinh vào chùa. Một mối tình bí ẩn chăng. Trong thiên hạ lại rêu rao rằng: “Con ai đem bỏ chùa này. Nam mô di phật con thầy, thầy nuôi”. Vì thế, lưu truyền tin đồn rằng, chính đại sư Lý Vạn Hạnh mới là cha đẻ của Lý Công Uẩn.

Đại sư ra sức dạy dỗ và dựng nghiệp cho con trai mình. Ngài còn tạo dựng những thế lực trong triều Tiền Lê khi đó, để chuẩn bị tương lai cho con trai mình. Lý Vạn Hạnh còn nghĩ ra lời sấm truyền trong dân gian để đưa con mình lên ngôi đúng lúc như một thiên mệnh trời ban.

Phải chăng sau này, Vua Lý Thái Tổ đã về quê nội ở Đình Bảng để đặt ngôi vị đất thờ cúng tổ tiên (đền Bát đế ngày nay). Điều đó, càng thêm như một lời khẳng định nguồn gốc cha sinh mẹ đẻ của Lý Công Uẩn.

Đỉnh núi thơm

Vùng chùa Tiêu xưa có câu: “Con trời chẳng biết mặt cha. Lớn lên trung dũng tài ba khác thường. Ai về bên bến sông Tương. Chớ gần cô tiểu mà vương phải bùa”. Nghĩa là mọi chuyện ngỡ đã có câu trả lời nhưng mãi mãi vẫn là một bí ẩn về người cha đẻ của vua Lý Thái Tổ.

Vào một buổi sớm tôi lên chùa Tiêu, đúng lúc các sư lên tụng kinh, hương thị chín thơm ngát. Tiếng mõ, tiếng chuông xen lẫn tiếng chim hót trên đỉnh núi. Một không gian ấm áp. Ngôi tượng đại sư Lý Vạn Hạnh được dựng trên đỉnh tháp mới xây, dưới chân núi Tiêu như đang bay trong không trung ngàn mây trắng.

Tôi thẫn thờ đi lên đỉnh núi và thấy tâm hồn mình thanh thản đến lạ thường. Con sông Tiêu giờ nay đâu. Hồ sen kia như một lưu dấu câu chuyện tình kỳ bí nhất của thế gian này. Hương thị theo gió cuộn lên đỉnh núi. Mối tình như có như không kia đã bay về trời.

Đỉnh núi, nơi ngài thiền đã ngàn năm qua, thơm thảo ngát hương. Một ngọn gió dạt tới. Tôi đứng lặng trên đỉnh núi Tiêu và nhớ đến câu thơ của ngài rằng: “Thân như bóng chớp, có rồi không. Cây cối xuân tươi, thu não nùng. Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi. Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông”.

Vương Tâm

Các tin khác

Ca sĩ Tùng Dương đã tổ chức riêng nhiều live concert.

Từ “độc đạo” đến đại chúng

25 năm trong nghề, Tùng Dương đã có một hành trình đặc biệt mà không nhiều nghệ sĩ thế hệ anh có thể làm được. Đó là hành trình của một nghệ sĩ luôn muốn bước ra khỏi vùng an toàn, không ngừng thử nghiệm, tìm kiếm những giới hạn mới của giọng hát và tư duy âm nhạc. Nhưng cũng chính trên hành trình tưởng như ngày càng đi xa ấy, Tùng Dương lại ngày càng trở về gần hơn với những điều căn cốt: gia đình, tình yêu, con người, quê hương, đất nước, những giá trị đã làm nên căn tính của mình.

Buổi gặp gỡ báo chí giới thiệu chương trình “Phú Quang - Còn mãi một tình yêu” tại Nhà hát Hồ Gươm

Âm nhạc không chỉ là ký ức

Gần 5 năm sau ngày nhạc sĩ Phú Quang rời cõi tạm, những giai điệu của ông vẫn hiện diện trong đời sống âm nhạc Việt Nam. Năm 2026, ba người con của ông chính thức tiếp nhận di sản âm nhạc mà cha để lại. Nhưng câu chuyện di sản âm nhạc Phú Quang không chỉ là câu chuyện của một gia đình tiếp nhận một gia tài nghệ thuật. Nó đặt ra một vấn đề lớn hơn: làm thế nào để di sản âm nhạc của một nhạc sĩ được bảo vệ, được trao truyền và tiếp tục sống trong đời sống đương đại?

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Từ lời khen - chê đến chiều sâu phê bình

Ngày nay, nhiều tác phẩm điện ảnh ra đời nhận được sự bàn luận sôi nổi trên mạng xã hội cùng những bài review phim xuất hiện dày đặc. Tuy nhiên, giữa dòng chảy ồn ã ấy lại thiếu vắng những bài phê bình có chuyên môn, đi sâu vào ngôn ngữ điện ảnh, giá trị nghệ thuật và ý nghĩa văn hóa của tác phẩm. Để đời sống điện ảnh không chỉ dừng lại ở những lời khen - chê, đánh giá cực đoan, cần thêm những tiếng nói phê bình giàu tri thức, góp phần nâng cao thị hiếu và nuôi dưỡng tình yêu điện ảnh trong công chúng.

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Khai thác văn hóa truyền thống, cần sự am hiểu sâu sắc

Việc đưa chất liệu truyền thống vào các sản phẩm nghệ thuật đang trở thành xu hướng và mở ra nhiều hướng sáng tạo, góp phần làm mới cách tiếp cận và lan tỏa những giá trị văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, điều này cũng yêu cầu nghệ sĩ cần sự hiểu biết, tôn trọng và trách nhiệm với những giá trị văn hóa mà sản phẩm khai thác.

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” hôm qua và hôm nay

“Vui bất tuyệt” của Tố Hữu - một trong những bài thơ tiêu biểu viết về Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không chỉ là niềm vui của một cá nhân, hay của hàng chục triệu người, còn là niềm vui hồi sinh của một dân tộc vừa thoát khỏi ách nô lệ, giành lại quyền làm chủ vận mệnh. Cũng là niềm vui được cống hiến và kiến tạo tương lai. “Vui bất tuyệt” trở thành cảm hứng chung cho nhiều tác phẩm nổi tiếng cùng chủ đề.

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".