Mối tình dài theo núi mộng gương hồ

Bây giờ, Đông Hồ - Mộng Tuyết không còn trên dương gian. Thế nhưng, mối tình của họ còn tồn tại như những cảnh đẹp trên mảnh đất Hà Tiên. Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết cảm tưởng khi đến thăm Nhà lưu niệm Đông Hồ do Mộng Tuyết xây dựng: "Trong lịch sử văn học mỗi nước, thường ghi lại những đôi thi nhân, vừa là người yêu, vừa là bạn thơ, vừa là bạn đời.

Mảnh đất Hà Tiên do Mạc Cửu khai phá, bây giờ là thị xã cực Nam nước ta. Nơi ấy không chỉ có nhiều cảnh đẹp thanh bình, mà còn được truyền tụng về phong vị văn chương. Nơi ấy, từ năm 1736, Mạc Thiên Tích đã lập ra Chiêu Anh Các là tổ chức văn học thứ hai tại Việt Nam (sau hội Tao Đàn của Vua Lê Thánh Tông ra đời năm 1495). Nơi ấy, bây giờ còn lưu giữ mối tình đẹp của cặp vợ chồng thi sĩ Đông Hồ - Mộng Tuyết. 

Năm 1942, khi Hoài Thanh - Hoài Chân cho ấn hành "Thi nhân Việt Nam" lần đầu tiên, thì Đông Hồ và Mộng Tuyết cùng góp mặt với tư cách anh rể và em vợ. Còn hôm nay, độc giả mở lại "Thi nhân Việt Nam" thì lại có cảm giác thú vị vì phát hiện Đông Hồ và Mộng Tuyết là đôi uyên ương duy nhất được vinh danh trong tuyển tập thơ mới trứ danh này. Sự thay đổi quan hệ giữa Đông Hồ và Mộng Tuyết theo thời gian, như thể chứng minh rằng họ là một cặp thi sĩ trời sinh.

Nữ sĩ Mộng Tuyết khi xuất bản tập thơ đầu tay "Phấn hương rừng"!
Nữ sĩ Mộng Tuyết khi xuất bản tập thơ đầu tay "Phấn hương rừng"!

Thi sĩ Đông Hồ (1906-1969) tên thật Lâm Tấn Phác, tự Trác Chi. Ông được người đời quý trọng với tư cách một người cổ vũ chữ quốc ngữ một cách say đắm. Năm 1926, Đông Hồ mở Trí Đức Học Xá ở Hà Tiên, là trường dạy chuyên chữ quốc ngữ duy nhất ở miền Nam lúc chính quyền Pháp còn đô hộ Việt Nam. Dù chỉ tồn tại 5 năm, nhưng Trí Đức Học Xá tạo được tiếng vang lớn. Trong những học trò của Đông Hồ lúc ấy, có nữ sĩ Mộng Tuyết cắp sách theo thầy với tên thật Thái Thị Út!

Học trò Thái Thị Út nhỏ hơn thầy giáo Đông Hồ 8 tuổi. Khi học trò Thái Thị Út đến Trí Đức Học Xá, thì thầy giáo Đông Hồ đã có vợ là Lại Linh Phượng và một cô con gái là Lâm Mỹ Tuyên. Bà Lại Linh Phượng mất vào năm 1928, Đông Hồ viết bài ký "Linh Phượng" khóc vợ, được đánh giá tương đương với bài thơ "Giọt lệ thu" của Tương Phố khóc chồng.

Mãn tang vợ, Đông Hồ tục huyền với Thái Nhàn Liên là… chị thứ 5 của Thái Thị Út. Trong hồi ký "Núi Mộng gương Hồ", chính nữ sĩ Mộng Tuyết kể lại giây phút ấy: "Tôi là người em gái của cả hai người thành ra tôi phải chuyển những ý muốn của anh Trác Chi với chị tôi và chị tôi chỉ là người thụ động. Cuộc hôn nhân chính thức cử hành long trọng. Đám cưới chọn được giờ lành giữa khuya một đêm trăng".

Thầy giáo Đông Hồ trở thành anh rể, vẫn vẹn nguyên hình ảnh một thần tượng trong mắt Thái Thị Út. Vì vậy, khi được mời tham gia với tư cách nữ sĩ Mộng Tuyết trong cuốn "Thi nhân Việt Nam", Thái Thị Út tự đổi tên mình thành Lâm Thái Út theo họ thầy Lâm Tấn Phác để gửi tiểu sử văn học cho Hoài Thanh - Hoài Chân!

Khi Đông Hồ làm đám cưới với Thái Nhàn Liên, nữ sĩ Mộng Tuyết làm bài thơ mừng: "Vui chị, chị tình trong cốt nhục/ Mừng anh, anh nghĩa chốn chi lan/ Trăm năm gia thất nhiều êm đẹp/Trang điểm hồ Đông cậy bóng sen". Còn trong tập thơ đầu tay "Phấn hương rừng" của nữ sĩ Mộng Tuyết, thì Hoài Thanh - Hoài Chân phát hiện: "Người xem thơ bỗng thấy lòng run run như được đọc thư tình gửi cho một người bạn: người thấy mình đã phạm vào chỗ riêng tư của một tâm hồn, trong tay dường như đương nắm cả một niềm ân ái".

Thật vậy, bài thơ "Vì anh thọ xuân" của Mộng Tuyết viết tặng Đông Hồ không hề giấu giếm tình cảm của nàng em vợ dành cho chàng anh rể: "Bởi sợ nhà thơ nghèo đến chữ/ Yêu nhau đưa tặng mấy muôn lời/ Tiếng nhà, của sẵn kho vô tận/ Mặc sức tiêu hoang, mặc sức chơi/ Mua bốn phương trời mây nước đẹp/ Mua nghìn năm cảnh cỏ hoa tươi/ Hãy còn thừa thãi, tiêu chưa hết/ Mua lấy trần gian tiếng khóc cười/ Trước hết, đã mua rồi một món: Thành Phương hương điểm mối tình dài".

Ở đây, xin lưu ý, Thành Phương hoặc Phương Thành là tên gọi cũ của mảnh đất Hà Tiên, nơi mà nữ sĩ Mộng Tuyết trong cuốn sách "Đường vào Hà Tiên" đã bày tỏ sự gắn bó máu thịt: "Riêng ở đây, ngoài tấm cảm tình riêng biệt đã sẵn dành cho chốn quê hương, còn thêm tấm lòng yêu đằm thắm đối với cảnh thiên nhiên, bao bọc quanh mình từ nhỏ. Biển rừng hồ núi quanh đây, đối với Út như là chiếc nôi êm ấm của đứa hài nhi. Thêm vào, lại còn niềm kính mến tôn sùng mảnh đất lịch sử đượm một phong khí thiêng liêng huyền bí".

Người vợ thứ hai Thái Nhàn Liên cũng sinh cho thi sĩ Đông Hồ một cô con gái, đặt tên là Lâm Mỹ Diễm. Tuy nhiên, do bạo bệnh, Thái Nhàn Liên đoản mệnh vào năm 1946. Từ đó, người dì Mộng Tuyết trở thành người mẹ thứ hai ân cần chăm sóc cho hai cô gái Lâm Mỹ Tuyên và Lâm Mỹ Diễm. Nữ sĩ Mộng Tuyết thổ lộ: "Suốt một thời gian dài, tôi vừa là học trò, vừa là bạn thơ, vừa là bảo mẫu cho hai đứa con của Đông Hồ. Mãi tới đầu thập niên 1950, khi chúng tôi chuyển lên Sài Gòn sinh sống, thì tôi và anh ấy mới chính thức là bạn đời của nhau!".

Đông Hồ và Mộng Tuyết ở Sài Gòn năm 1955!
Đông Hồ và Mộng Tuyết ở Sài Gòn năm 1955!

Mối tình Đông Hồ - Mộng Tuyết được thăng hoa qua chính tác phẩm của họ. Đông Hồ viết cho ngày nên nghĩa phu thê với Mộng Tuyết: "Tuổi trẻ vui lây hồn thế hệ/ Đường chiều thêm đẹp bước vân trình/ Thời gian dẫu đổi màu sương tuyết/ Ngan ngát còn thơm mái tóc trinh". Còn Mộng Tuyết dành cho Đông Hồ sự yêu thương và kính trọng hết mực: "Còn anh, em chẳng làm thơ/ Có anh là sống giấc mơ tuyệt trần/ Yêu anh tự kiếp tiền thân/ Gặp anh biết có được gần kiếp sau".

Tình thơ giữa Đông Hồ và Mộng Tuyết đã biến mảnh đất Hà Tiên thành một địa chỉ văn chương, được nhiều nhân vật cầm bút nổi tiếng thường xuyên lui tới. Chẳng hạn, những ngày thi sĩ Nguyễn Bính ở Hà Tiên được nữ sĩ Mộng Tuyết ghi lại: "Mỗi đêm, dưới ánh hồng lạp, Bính viết bốn năm trang thơ lục bát. Thời kỳ bấy giờ không dầu lửa. Ở tỉnh nhỏ, ai cũng đốt bằng dầu dừa, dầu cá.

Duy với Bính thì anh Đông Hồ phải dành trên Nam Phong Tiểu Các cho Bính những ngọn hồng lạp để đêm hôm Bính làm thơ. Mỗi sáng ra, Bính đem đọc cho chúng tôi nghe, bàn lại, cùng thưởng thức. Giữa lúc đó, vào tiết Đoan Ngọ, theo tục lệ ở Hà Tiên, tôi nấu nước lá thạch xương bồ để tắm gội. Bính thích ba chữ "thạch xương bồ", và lấy ba chữ đó đặt tên cho tác phẩm đang khởi thảo của mình. Trong lúc sáng tác, Bính thường bảo viết truyện thơ, tả cảnh tả tình không khó.

Tự sự mới thiệt khó khăn. Bính nói: "Mình có làm rồi mới biết văn tự bằng lục bát của Nguyễn Du quả là tài tình. Người sau đố mà theo cho kịp". Bính sáng tác truyện "Thạch Xương Bồ" được gần hai ba trăm trang. Tới lúc rời đi, thì truyện mới chỉ xong được một phần. Nếu Bính còn nằm ở Hà Tiên ít lâu nữa thì chắc chắn đã hoàn tất được một quyển truyện diễn ca khá độc đáo. Bởi chúng tôi thấy khi đó Nguyễn Bính viết rất hào hứng, rất dồi dào. Bính viết lục bát nhanh như văn xuôi. Anh Đông Hồ và tôi tiếc vì tác phẩm chưa hoàn thành mà Bính bỏ đi, bỏ dở dang thì uổng. Chúng tôi cố lưu Bính ở lại thêm một thời gian nữa mà Bính nhất quyết ra đi. Bịnh giang hồ đã nổi dậy lên trong lòng người nghệ sĩ...".

Đông Hồ và Mộng Tuyết không có con chung với nhau. Những năm tháng ở Sài Gòn, Mộng Tuyết không chỉ giúp Đông Hồ nuôi hai con gái, mà còn phụ Đông Hồ quản lý Tạp chí Nhân Loại và Yễm Yễm thư trang do ông sáng lập. Ngày 23-5-1969, khi đang đứng trên giảng đường Đại học Văn khoa Sài Gòn để dạy cho sinh viên bài thơ "Trưng Nữ Vương" của Ngân Giang, thi sĩ Đông Hồ đã bị đột quỵ và qua đời.

Năm 1996, sau khi xây xong "Đông Hồ thi nhân kỷ niệm đường" ở Hà Tiên trên nền nhà Trí Đức Học Xá cũ, Mộng Tuyết bán ngôi biệt thự ở đường Nguyễn Trọng Tuyển (Phú Nhuận, TP Hồ Chí Minh) trở về Hà Tiên, sống ở đấy để ngày đêm hương khói cho Đông Hồ. Khi có bạn bè đến thăm, bà thường chỉ vào ngọn núi Tô Châu trước mặt, nơi có mộ của nhà thơ Đông Hồ và nói: "Tôi sẽ về ở đó với anh Đông Hồ mãi mãi…". Từ đó, đến khi mất vào ngày 1-7-2007, Mộng Tuyết không bước chân đi đâu xa, mà chỉ sống lặng lẽ với kỷ niệm Đông Hồ xung quanh.

Bây giờ, Đông Hồ - Mộng Tuyết không còn trên dương gian. Thế nhưng, mối tình của họ còn tồn tại như những cảnh đẹp trên mảnh đất Hà Tiên. Nhà văn Nguyễn Đình Thi viết cảm tưởng khi đến thăm Nhà lưu niệm Đông Hồ do Mộng Tuyết xây dựng: "Trong lịch sử văn học mỗi nước, thường ghi lại những đôi thi nhân, vừa là người yêu, vừa là bạn thơ, vừa là bạn đời.

Trong văn học nước ta suốt một thời gian dài của thế kỷ XX, đã ghi lại hình ảnh hai nhà thơ Hà Tiên mà những người yêu văn học cả nước đều biết và quý trọng: Đông Hồ và Mộng Tuyết!". Còn nhà thơ Huy Cận nhận xét: "Cặp thi nhân Đông Hồ - Mộng Tuyết sẽ ở lại trong lịch sử thi ca Việt Nam như một mối tình thơ đằm thắm, thủy chung, đã nhuốm chút màu huyền thoại…".

Tuy Hòa

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.