Miền chầu văn

Tôi sinh ra ở Nam Định - cái nôi của những làn điệu chầu văn nức nở, của những đêm hầu bóng xập xòe. Thuở nhỏ, tôi theo bà lên đền Cửa xem hầu bóng. Bà tôi mặc bộ lụa trắng, trong vai  người hầu dâng chuyên thay khăn áo, cài trâm hoa cho thanh đồng khi chuyển từ giá này sang giá khác. Bà Bích chị dâu của bà tôi là một bà đồng chính hiệu chuyên hầu thánh mẫu mỗi dịp ngày rằm, mùng một, tiệc quan, tiệc cô, tiệc cậu. 

Dạo trước, bà Bích tự nhiên lúc khóc, lúc cười, rồi lang thang đường thôn, ngõ xóm, tóc xõa ra vừa đi vừa múa hát như Xúy Vân giả dại. Đi xem thì thầy phán, bà Bích căn cao, số nặng lắm, nên phải đi hầu thánh mẫu mới hết bị "thánh quở, mẫu trách".

Một buổi hầu bóng thường được chuẩn bị rất công phu từ nhiều ngày trước. Nào là các đồ cúng lễ như xôi oản, hoa quả, vàng mã. Hoa phải là loài hoa thật ngát như hoa huệ, hoa ly, hoa hồng, quả phải là loại quả thật thơm như quả thị, quả bưởi, quả chuối, xôi phải là thứ xôi nếp cái hoa vàng trộn gấc khi đồ chín tỏa năm gian nhà, ba gian bếp.

Gà phải là con gà trống đang gáy, mào đỏ, chân vàng, chưa thiến lần nào. Không như đồ đi lễ chùa của mẹ tôi, thanh khiết và đạm bạc hơn nhiều. Nào là khăn chầu, áo ngự, thứ nào thứ ấy lấp lánh, mượt mà, óng ả. Và không thể thiếu phấn son và một lọ nước hoa đầm xòe nắp đỏ, bên trong đựng thứ nước màu rêu ngõ, thơm sực nức. Nước hoa được bà đồng xức trước khi khấn mời thánh nhập, và khi chuyển giá đồng.

Một chương trình biểu diễn hát chầu văn “Tứ Phủ”.
Một chương trình biểu diễn hát chầu văn “Tứ Phủ”.

Tính tôi rất cả thèm chóng chán, cứ đi đâu một lúc là nằng nặc đòi về. Nhưng hễ đi với bà xem lên đồng là tôi ngồi yên, lạ thế. Tôi tựa lưng vào cột lim đen bóng, tay cầm oản lộc, vừa ăn vừa xem mê mải. Hết giá chầu đến giá quan, hết giá cô sang giá cậu.

"Buồn ngủ mấy, cứ nghe hát chầu văn là thằng này tỉnh như sáo" - bà tôi bảo thế. Những bà chầu múa lửa xòe hoa, những ông quan cưỡi ngựa vung kiếm, những cậu hoàng uống rượu hút tẩu, những cô đôi gùi măng gánh lụa đã khơi niềm thích thú, gợi nỗi ám ảnh trong tôi suốt một thời thơ ấu.

Bà Bích thắp năm nén hương trầm, tay xòe quạt lông gà, ngồi trên ghế mây nhai trầu bỏm bẻm, quết trầu đỏ thắm như hoa trên làn môi cắn chỉ đang lầm rầm cầu khấn, đại ý đã nhất tâm về bái yết cửa cha cửa mẹ, thần tam tứ phủ, cúi xin phật thánh thương xót giáng đền giáng phủ, xe loan giá ngự, chấp lễ chấp bái, chứng minh công đức, giáng phúc lưu ân cho quốc thái dân an, cầu cho mưa thuận gió hòa, thiên hạ thái bình, muôn nhà được hưởng ấm no hạnh phúc.

Khói hương trầm ngan ngát uốn cong cổng tam quan, ngấm sừng cột lim bóng, nhuộm son ngói mũi hài, mài vẹt mảnh trăng non. Bà tôi trùm lên đầu bà Bích một cái khăn nhiễu đỏ thêu rồng phượng, bà Bích lắc lư một lúc rồi lấy tay hất chiếc khăn ra. Các bà hầu dâng vội vã vấn khăn, thay áo cho bà đồng bước vào giá đầu tiên. Bà Bích múa dẻo lắm, tôi có cảm giác nghệ sĩ múa bây giờ không ai múa dẻo bằng bà Bích nhập đồng ngày ấy. Cung văn kẻ đàn, người hát.

Đàn nguyệt, trống, thanh la, kèn bầu, sênh, phách… nổi lên rộn ràng, náo nức như mưa rào đầu hạ. Lời chầu văn da diết kể về sự tích và ca ngợi công đức của các bậc thánh mẫu đã đi vào huyền tích, mở ra cảnh đẹp của núi sông gấm vóc nơi thánh mẫu cai trị, vân du cùng những lời khẩn cầu của con nhang đệ tử trong lời văn mong thánh mẫu "chứng" cho lòng thành của bách gia trăm họ.

Và bao giờ cuối mỗi bài chầu văn cũng là câu "Xe loan thánh giá hồi cung" ngân lên như một lời tiễn giá hầu cũ đã hồi cung và đón một giá hầu mới về ngự đồng.

Tôi thích nhất là màn phát lộc, lộc chỉ là cái kẹo, chiếc bánh, phẩm oản, tiền lẻ nhưng ai cũng mong được chút lộc "thánh ban". Bà đồng đội mâm lộc, ném cho người gần, tung cho người xa. Tiền lẻ bay lả tả như vòm cây mùa thu đồng loạt trút lá.

Con nhang đệ tử nhận được đều chắp tay vái lạy thánh mẫu đã ban lộc. Tôi cũng vỗ tay theo lời hát, và nói đế theo mấy người cung văn: "Tấu lạy cô, cô đẹp quá, cô duyên dáng quá". Bà Bích được cô đôi Cam Đường nhập đồng giáng lâm trước án đang gánh lụa chỉ vào tôi: "Ban khen cho họ Hoàng nhé!". Tôi nghe thấy thế, cười tít mắt.

Mỗi lần xong buổi chầu, thể nào trong túi quần, túi áo tôi cũng đầy kẹo bánh, chia cho mấy đứa bạn hàng xóm khiến đứa nào cũng ước giá như bà nó cũng biết…lên đồng thì thích nhỉ, tha hồ mà ăn kẹo bánh.

Bà Bích bảo với bà tôi là tôi có căn, có số đấy, cứ nhìn nó thì biết, con trai mà mắt ướt như sương, môi hồng như cánh sen thế kia. Sau này phải đi "làm việc" thánh đấy. Biết chuyện, mẹ tôi lo quá giữ tịt tôi ở nhà không cho đi xem hầu đồng cùng bà nữa. Nhưng mỗi lần bà đi là tôi ngó trước canh sau rồi trốn lên đền với bà.

Thấy tôi cứ mê mẩn thế, bà Bích với bà tôi sắm cái lễ "khất đồng" cho tôi. Khất đến bao giờ thì tôi không biết, nhưng bây giờ mỗi lần đi lễ đền mà thấy người ta lên đồng là tôi lại sà vào xem với một niềm háo hức lạ kì. Sau này biết làm thơ tôi đã từng viết trong bài "Dâng văn quan Hoàng Bảy" những câu thế này:

"...Tam quan chiếc lá vừa rơi
Đỏ như ai nhuộm mấy lời chầu văn
Thôi thì có số có căn
Con xin khất nợ váy khăn hầu đồng..."

Như một mối lương duyên, tôi đi xa quê hương Nam Định và lên công tác tại Bảo Yên, một huyện cửa ngõ của vùng biên giới Lào Cai. Nơi đây có đền Bảo Hà thờ quan Hoàng Bảy bên bờ sông Hồng trăng vàng gió lộng.

Mỗi ngày rằm, tôi chở mẹ vợ đi lễ đền lại được thưởng thức "bữa tiệc" chầu văn dù rằng ngắn chẳng tày gang nhưng nhắc tôi nhớ về một tuổi thơ theo bà lên đền hầu thánh xin lộc. Những làn điệu chầu văn cứ trở đi trở lại trong thơ tôi như một mảng màu kí ức rực rỡ không thể phai nhòa.

Tôi nương theo, vịn vào những làn điệu chầu văn bùa mê ấy để vững bước trên đường đời, để tin tưởng vào cõi người còn nhiều điều tốt đẹp như bà tôi, bà Bích tin vào thánh mẫu đã chở che để đi qua tháng ba ngày tám nhọc nhằn.

Tiếc rằng bây giờ nhiều người lợi dụng việc hầu bóng để hành nghề mê tín dị đoan, hoặc sùng bái quá mức dẫn tới hao tiền tốn của, tan cửa nát nhà. "Tu nhà mới ra tu chùa", người xưa dạy có sai chút nào.

Bà tôi, bà Bích đã đi xa và mang theo món nợ của tôi về miền tam tòa thánh mẫu. Món nợ hầu bóng mà suốt đời này tôi không bao giờ trả được. Thì chầu văn ơi, con xin tấu khúc dâng người...

Hoàng Anh Tuấn

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.