“Mã đáo thành công”

Không cứ ở Việt Nam, trong văn hóa phương Đông nói chung, rất phổ biến bức tranh “Mã đáo thành công” (Ngựa thành công trở về) tả 8 con ngựa (số 8 là số của may mắn) đầy khí thế, mạnh mẽ mà an nhiên đang phi nước đại.

Có nhiều “tích” chung quanh bức tranh. Một, gắn với tập quán người Mông Cổ sinh sống trên thảo nguyên, với họ, ngựa là vật nuôi quan trọng nhất. Vào mùa xuân, người ta thả rông những con ngựa được dạy dỗ thuần thục, để lôi kéo những con ngựa hoang về với đàn ngựa nhà. Hình ảnh đàn ngựa 8 con chạy về cùng một hướng, tức cả ngựa nhà cả ngựa hoang trở về. Thế là “mã đáo thành công”.

“Mã đáo thành công” -0
Thắng giặc, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay về trời (tranh sơn dầu).

Hai, với người Trung Hoa xưa, phương tiện đi xa (thường của đàn ông) chủ yếu là ngựa, có thể là đi buôn bán, có thể là ra trận... và thường đi rất lâu. Những người ở nhà (cha mẹ già, vợ con) từng ngày mong ngóng tiếng vó ngựa. Thế nên, “mã đáo” trở thành biểu tượng cho sự trở về bình an. Phải chăng, xuất phát từ thực tế này mà ngựa còn gắn liền với khái niệm chỉ thời gian. Thành ngữ “bóng câu qua cửa sổ” có từ rất xưa.

Trang Tử có câu: “Nhân sinh thiên địa chi gian nhược bạch câu chi quá khích” (Đời người trong trời đất giống như bóng câu qua khe cửa). Sách “Sử ký” cũng có câu tương tự: “Nhân sinh nhất thế gian như bạch câu quá khích” (Người sống ở đời như bóng câu qua cửa). “Bạch câu” nghĩa là bóng con ngựa trắng, ý nói thời gian trôi rất nhanh. Điển cố này rơi vào địa hạt thơ ca Việt nảy ra nhiều câu triết lý về thời gian và đời người, như: “Cũng như cửa sổ ngựa qua/ Nghĩ nào mà ủ mặt hoa cho phiền” (“Lục Vân Tiên” - Nguyễn Đình Chiểu)... Xin giới thiệu một số loài/con ngựa gắn liền với thành công.

Truy ngược về sâu xa miền thượng nguồn cổ mẫu phương Đông, “rồng” là hóa thân của “ngựa”. Khái niệm “long mã” (long = rồng; mã = ngựa) chỉ con vật huyền thoại “pha trộn” hình hài của ngựa và rồng. Trong truyền thuyết Trung Hoa cổ, loài ngựa cao to, khỏe mạnh được gọi là “Ô Long” hoặc “Hắc Long”. Có hai loại, loại ngựa ô quạ sắc lông đen mun ngời ánh xanh như lông chim quạ. Loại ngựa thông có sắc lông xanh lục đen, ánh xám bạc rất quý hiếm, nên được các vị vua của Việt Nam, Trung Hoa ưa chuộng.

Trong “Liêu trai chí dị”, Bồ Tùng Linh tả con ngựa Nhàn Lương Thông (trong truyện “Ngũ thông thần”) được cả vua dương gian lẫn vua âm phủ quý hơn vàng ngọc vì nó rất khôn, tình nghĩa. Ở nước ta, tương truyền Hoàng đế Duệ Tông (1337-1377) dùng con tuấn mã Nê Thông thân chinh đi đánh phạt quân Chiêm Thành. “Nê” dùng để chỉ ngựa có hai màu lông trắng đen; “thông” là ngựa có sắc lông ánh xanh. Đây là hai sắc lông hiếm gặp. Nê thông là sự kết hợp những nét ưu trội ở cả hai loại ngựa trên.

Loại Ô Truy còn đặc biệt hơn, vì là loại ngựa chiến to lớn, rất khỏe mạnh, dũng mãnh. Trong “Sử ký”, Tư Mã Thiên kể về Ô Truy của Tây Sở Bá vương Hạng Vũ: “Hạng Vũ còn có một con ngựa quý tên là Ô Truy (một loại ngựa lông có hai màu xanh trắng) và người thiếp yêu tên Ngu Cơ được Hạng Vũ vô cùng yêu quý. Đây là hai vật quý, hai thứ được Hạng Vũ xem trọng nhất đời”.

Vẫn theo “Sử ký”, khi bị đối phương bao vây, Ô Truy cùng 28 kỵ binh khác phá vòng vây, như chốn không người. Lần cuối bại trận, Hạng Vũ dùng kiếm tự sát bên bờ Ô Giang. Ngựa Ô Truy liền chết theo chủ. Trước khi chết, nó hí lên mấy tiếng ai oán đau đớn rồi nhảy xuống sông mất dạng.

Truyền thuyết khác lại kể, sau khi thua trận, Hạng Vũ đâm cổ tự sát, con ngựa quanh quẩn bên ông chảy máu mắt, bỏ ăn mà chết. Chính vì vậy, Ô Truy được đánh giá là loại ngựa trung nghĩa, sắt son, hết lòng vì chủ. Người đời sau vẫn nhắc về ngựa Ô Truy như một biểu tượng đẹp của lòng trung thành. Trong “Tam quốc diễn nghĩa” Trương Phi cũng cưỡi loại ngựa này, tên gọi là Vương Truy Mã, nghĩa là con ngựa theo hầu Đại Vương.

Trong văn hóa phương Tây, ngựa biểu trưng cho sự sinh sản, sức sống, phồn sinh, phồn thực. Trong thần thoại Hy Lạp thì con trai của nữ thần Rạng đông Eos và thần Chiêm tinh Astraeus là Zephyrus biểu trưng cho cơn gió Tây của mùa xuân, nên có đôi cánh để bay.

Là vị thần “phong tình”, vào mùa xuân Zephyrus thường hóa thành những con ngựa gió để giao phối với bầy ngựa cái, sinh ra cả đàn ngựa con. Zephyrus còn cưới nữ thần Cầu vồng Iris sinh ra một người con trai là vị thần Đam mê Pothos. Lại có mối tình “ngoài lề” với nữ thần Hoa cỏ Chloris cùng làm cho đất đai màu mỡ và khí hậu ôn hòa, cây trái tốt tươi. Người Hy Lạp cổ cắt nghĩa gió (trời) và ngựa (hoang) đi liền với sự sinh sôi của mùa xuân.

“Mã đáo thành công” -1
Bức tranh “Mã đáo thành công”.

Có phẩm chất mạnh mẽ, dũng cảm, tình nghĩa, loài ngựa được quốc gia Macedonia (nay là Cộng hòa Bắc Macedonia) tôn vinh như những anh hùng. Thành phố Bucephalus là tên một con ngựa do chính nhà vua Alexandre đặt để tưởng nhớ con vật có công với đất nước.

Truyền thuyết kể, Bucephalus thuộc giống nhân mã không phục tùng bất cứ ai trừ vua Alexandre. Khi còn là hoàng tử, Alexandre thuần hóa con ngựa bằng tình yêu vô bờ. Chàng đưa tay vỗ nhẹ vào cổ và khẽ lái con thần mã hướng về phía mặt trời để nó không còn sợ bóng của chính nó. Cuối cùng chàng chinh phục được con vật dữ tợn và lên ngôi vua để chinh phục khắp cả vùng Trung Đông.

Trong một trận chiến ác liệt, Bucephalus bị thương rất nặng, Alexandre định thay ngựa khác nhưng Bucephalus không chịu. Nó đến trước mặt chủ tướng, quỳ xuống cho Alexandre lên yên. Với sức tàn còn lại, Bucephalus vùng lên hoàn thành sứ mạng đưa Alexandre chiến thắng trước khi trút hơi thở cuối cùng. Nhà vua an táng Bucephalus với tất cả lễ nghi trọng thể cấp quốc gia!

Ở Việt Nam, tương truyền, một trong “Tây Sơn ngũ thần mã” (5 con ngựa thần của nhà Tây Sơn), là con Ô Du của danh tướng Đặng Xuân Phong. Truyền ngôn kể Ô Du có lông đen như gỗ mun, bốn chân thon nhỏ như chân nai, có hình dạng, dáng đi giống như cọp. Ô Du leo núi, vượt qua những ghềnh đá nhấp nhô nhưng người cưỡi có cảm giác như đi trên đất phẳng.

Trong lần đầu xuất trận, nhờ Ô Du, Đặng Xuân Phong đã chiếm được thành Thăng Bình và Điện Bàn, sau đó đuổi giết được hai tướng giỏi của chúa Nguyễn là Tôn Thất Quyền và Tôn Thất Xuân. Sau khi Vua Quang Trung băng hà, Đặng Xuân Phong cáo quan về quê rồi bỏ đi nơi khác. Ô Du cũng biệt tích theo...

Theo huyền thoại thì ngựa sắt của Thánh Gióng là ngựa ô vì được đúc bằng chất liệu sắt. Ngựa sắt phun ra lửa mới hợp lý và thật đích đáng cho kẻ xâm lược khi chúng chết như ngả rạ trước hành động phi thường của người anh hùng. Giặc tan, Thánh Gióng cưỡi ngựa bay lên trời. Phải là ngựa đen thì mới in rõ hình trên nền mây trắng trời xanh...

Truyền thuyết mở ra cả một bầu trời bao la ý nghĩa về niềm tin, mơ ước: Đuổi xong giặc, Thánh Gióng bay lên trời cũng là bay vào bầu trời văn hóa Việt tôn vinh tinh thần xả thân vì nước một cách vô tư nhất của những người nghĩa sĩ... Còn là tư tưởng lớn: người anh hùng cứu nước vì dân, vì nghĩa, không ham một chút công danh, địa vị.

Người Việt ưa hòa bình và rất yêu nghệ thuật. Con ngựa chiến bước vào “Tỳ bà hành” (bản dịch của Phan Huy Thực) không phải miêu tả chuyện chinh chiến, mà để nói chuyện thưởng thức nghệ thuật. Giống như thơ, nhạc đi giữa cái không và cái có, giữa cái hữu thanh và cái vô thanh. Âm thanh lên đến cao trào thì trở về vô thanh: “Bình bạc vỡ tuôn đầy dòng nước/ Ngựa sắt dong, xô xát tiếng đao/ Cung đàn trọn khúc thanh tao/ Tiếng buông xé lụa lựa vào bốn dây/ Thuyền mấy lá Đông Tây lặng ngắt/ Một vầng trăng trong vắt dòng sông”.

Âm thanh xô đẩy nhau, có tiếng của bình bạc vỡ, của dòng nước xối xả tuôn, của nhạc ngựa rung, của tiếng binh khí va chạm chói gắt. Cao trào với tiếng lụa xé... Con thuyền tâm trạng lên đến đỉnh thác, chùng chình, bàng hoàng, có phần ngơ ngác. Rồi trôi lướt xuống hạ lưu. Vô thanh. Tĩnh lặng tuyệt đối: “Thuyền mấy lá Đông Tây lặng ngắt/ Một vầng trăng trong vắt dòng sông”. Đúng là “Tiếng tơ lặng ngắt bây giờ càng hay”...

Xin nói thêm về một cách lý giải bức tranh “Mã đáo thành công” trong văn hóa Việt: Sau khi đánh tan quân Thanh, Vua Quang Trung cho người cưỡi ngựa ngày đêm mang cành đào rất đẹp từ Thăng Long về Phú Xuân báo tin thắng trận cho vợ yêu - công chúa Ngọc Hân. Hiểu vậy, ngựa còn là biểu tượng mỹ học cho cái đẹp, tin vui, điềm lành, may mắn, hạnh phúc, niềm ân nghĩa, ân tình, thủy chung.

Năm 2026 - năm con Ngựa (Bính Ngọ), thuộc mệnh thủy - Thiên hà thủy (nước trên trời), chiểu theo dịch lý, sẽ là năm giàu năng lượng, vận khí hanh thông mở ra nhiều hướng, hứa hẹn gặt hái nhiều thành công nhưng cũng gặp không ít thách thức.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.