Lương bổng bỗng… lương lậu

Vừa rồi, tôi có được đọc mẩu chuyện này trên tờ báo nọ. Cũng tức cười. Rằng, sau khi khám, bệnh nhân được vị bác sĩ khả kính viết cho cái toa đi mua thuốc điều trị.

Có điều là ông ta viết “chữ bác sĩ”, “viết phá toa” tức nét chữ ngoằn nghèo tới mức: “Bệnh nhân này đã dùng toa thuốc đó để đi xe buýt miễn phí trong hai năm, đi xem hát một lần. Thậm chí anh ta còn đưa cho sếp xem, khiến sếp tưởng là thư tay của ai đó nên vội tăng lương bổng cho anh ta. Đặc biệt con gái của anh ta đã chơi piano từ toa thuốc này mà được học bổng vào nhạc viện”.

Bạn vừa tủm tỉm cười đấy à?

Vậy, xin hỏi, trong mẩu chuyện này có cả từ “bổng”, thế thì nghĩa của nó ra làm sao? Hỏi thế mà cũng hỏi, nè bạn, nghe nè:

Phượng hoàng bay bổng xòe đuôi

Choàng tay qua cổ bớ tui với mình

Tình tứ chửa? Bay bổng là cất mình lên không trung một cách nhẹ nhàng, tạo cảm giác nhanh chóng. Không khác gì:

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời

Đã mòn con mắt phương trời đăm đăm.

(Truyện Kiều).

Còn bổng tít lại là bay cao, cao tít mù, thăm thẳm, không trông rõ. Trong “nghệ thuật” bay của chim muông nói chung, có câu tục ngữ đúc kết “Gần bay la, xa bay bổng”. La nghĩa là “thấp, gần mặt đất”, “Việt Nam tự điển” (1931) giải thích. Nếu không rõ nghĩa từ là ắt ta tắc tị với câu ca dao:

Cũng là con mẹ con cha

Cành cao vun xới, cành la bỏ liều

 Khi một người nhận xét: “Hễ ca sĩ X đã cất giọng thì thiên hạ chỉ còn có nước ngậm mà nghe”. Có người hỏi lại: “Vì sao thế?”, “À, giọng ca ấy lên bổng xuống trầm bá cháy con bọ chét”. Bổng trong ngữ cảnh này lại là giọng cao và trong, trái nghĩa với trầm là thấp. Nhưng ai đó tâm tình: “Có được thành công ngày hôm nay, đời tôi đã nhiều phen bổng trầm” thì cái sự bổng trầm này lại ngụ ý khi lên voi lúc xuống chó, chứ không hề suôn sẻ.

Trái nghĩa với bổng trầm hiểu theo nghĩa cao thấp không chỉ có thế. Thí dụ, nói về kinh nghiệm trồng trọt cày cấy: “Ruộng cao trồng màu, ruộng sâu cấy chiêm”, “Vụ mùa cấy cao, vụ chiêm cấy trũng”; hoặc nói về thói đời: “Cao chê ngỏng, thấp chê lùn”… Rõ ràng, tùy hoàn cảnh cụ thế, người Việt đã sử dụng các từ đồng nghĩa khác nhau, đâu ra đó.

Vậy, các nghĩa về từ “bổng” vừa giải thích, có thể áp dụng  vào câu chuyện của bệnh nhân được lương bổng nhờ tuồng chữ như gà bươi, gà bới của vị bác sĩ nọ? Không thể. Cứ theo như từ điển giải thích, ta có thể hiểu nôm na, đó là “Tiền lương của quan lại” (Đại từ điển tiếng Việt, 1999). Không những thế ngoài “bổng” còn có thêm “lộc”, chẳng hạn, “huệ lộc/ ân lộc” là cấp cho quan hưu trí, “liêm lộc” là cấp cho quan để dưỡng liêm, “sứ lộc” là cấp cho quan đi sứ...

Cụ thể ra làm sao?

Bộ sách “bách khoa toàn thư” đầu tiên, có giá trị nhất của thời phong kiến là “Lịch triều hiến chương loại chí” (NXB Khoa học Xã hội - 1992, bản dịch Viện Sử học) do Phan Huy Chú biên soạn, cho biết vào năm 1067, đời vua Lý Thánh Tông: “Cấp bổng lộc cho các quan Đô hộ phủ sứ mỗi người mỗi năm 50 quan tiền, 100 bó lúa và cá muối mọi thức; cho cai ngục mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm” (T.1, tr. 541).

Còn trước đó?

Phan Huy Chú dẫn lời của nhà sử học Ngọ Phong Ngô Thì Sĩ: “Thời Lý các quan trong ngoài đều không cấp bổng. Quan trong thì bất thần vua thưởng cho; quan ngoài thì giao cho dân một miền để đặt người thuộc viên thu thuế ruộng đất ao hồ đánh vào dân cày dân cá mà lấy lợi. Đến đây quan coi hình ngục mới được cấp bổng hàng năm”.

Tất nhiên, về quy chế cấp bổng lộc ấy, các triều đại sau đã thực hiện bài bản hơn, quy củ hơn, Phan Huy Chú cũng đã nói đến. Rồi đến đời nhà Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triềìu Nguyễn biên soạn cũng trình bày rành mạch, tỏ tường.

coins.jpg -0
Ảnh: L.G

Qua những thông tin quan trọng này, ta biết, ít ra từ đời nhà Lý, từ “bổng/ bổng lộc” đã được áp dụng trong thực tế. Và, bổng lộc này có lẽ chỉ có tính tượng trưng chăng? hoặc chỉ đủ sống, chứ không nhiều. Do đó, không phải ngẫu nhiên, khi đọc/ học sử ta biết các vị quan thanh liêm ngày xưa không giàu, chỉ đủ sống. Thế mới có chuyện danh thần Mạc Đĩnh Chi danh tiếng vang lừng cả nước, vua Trần Anh Tông quý trọng ông đến mức chỉ gọi tên tự Tiết Phu, chứ không gọi tên thật. Dù đảm nhận nhiều trọng trách, nhiều lần công cán nước ngoài nhưng ông vẫn nghèo. Có lần nhà vua ái ngại hỏi:

- Trẫm nghe các quan nói nhà Trạng túng, nếu có thiếu gì cứ nói, trẫm sẽ tư cấp thêm.

Mạc Đĩnh Chi tâu:

- Hạ thần trên nhờ ơn vua, dưới nhờ lộc nước; vợ con không đói rét là đã toại nguyện. Chỉ bệ hạ xin thương lấy muôn dân mà lo cho dân, xây dựng nước nhà vững bền thịnh trị. Đó mới là ước nguyện của hạ thần. Cúi xin bệ hạ xét cho!

Nhà vua khen ông nói chí phải.

Sau khi vua Trần Anh Tông băng hà (1314), vua Trần Minh Tông lên nối ngôi. Có lần để thử tính liêm khiết của Mạc Đĩnh Chi, nửa đêm, nhà vua sai người bí mật đem đặt mười quan tiền trước cửa nhà ông. Tờ mờ sáng hôm sau, ông rảo bước ra sân thấy những đồng tiền đó. Ông hỏi láng giềng chung quanh có ai đánh rơi thì đến nhận lại. Không ai nhận cả. Khi vào chầu, ông đem số tiền nhặt được tâu với nhà vua và nộp vào công quỹ. Nhà vua lắc đầu:

- Nếu không có ai nhận, mà tiền lại ngay trước cửa nhà khanh thì đó là tiền của khanh. Khanh cứ giữ lấy mà dùng.

Ông khẳng khái:

- Tâu bệ hạ, nếu thần đổ công sức thì đó mới là tiền của thần. Bỗng dưng có được số tiền lớn này, không phải do lao động mà có, thần không dám nhận.

Đức tính thanh liêm ấy của ông được người đời khen ngợi mãi. Còn có thể kể thêm trường hợp của La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp. Lúc sinh thời, ông đã từng “thấy vàng không thèm ngoảnh cổ lại nhìn”, từ chối biết bao nhiêu bổng lộc, báu vật của triều đình nên khi nằm xuống gia đình rất túng quẫn.

Nhà thờ ông rất sơ sài, đến đời Duy Tân có sắc thần ban cho, nhưng tộc trưởng trong họ không có đủ hai đồng bạc để lãnh sắc! Bọn lính đem sắc thần về từ đường Nguyễn Thiếp, vì không được nhận tiền nên chúng ra ruộng xiết cả cái cày của ông tộc trưởng. Oái oăm thay, ông này phải đem cái chuông treo trong nhà thờ đem bán cho người đàn bà giàu có trong làng để chuộc lại! Chi tiết nhỏ này đủ thấy thuở sinh thời La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp đã sống liêm khiết như thế nào.

Ở Quảng Nam còn nhắc đến cách dạy con của bà mẹ Tổng đốc Hoàng Diệu. Lúc làm quan ở Hà Nội, vì nhớ mẹ, thương mẹ, có lần ông gửi về làm quà một vóc lụa quý. Bà mẹ không nhận, gửi trả lại, kèm theo một nhành dâu, tượng trưng ngọn roi, để cảnh cáo con đừng nhận quà cáp, biếu xén gì của dân. Ở Bến Tre, bà mẹ Lê Thị Mẫn cũng dạy con nghiêm khắc như vậy. Lúc con trai làm Án sát Nam Định nhân tết Nguyên đán, nhờ người đem về biếu mẹ một hộp trà ướp sen, mấy vóc lụa Hà Đông. Nhận quà, bà đem lụa đốt thành tro, gói lại rồi nhờ người đem quà chuyển trả lại.

Hành động của hai bà mẹ này cùng ngụ ý dặn dò con ra làm quan phải giữ lòng trong sạch, liêm khiết; không phải vòi vĩnh, nhận của đút lót, vun vén cho gia đình; ở nhà tự lo toan được, con không phải bận tâm, dành tâm trí lo cho dân, cho nước. Hành động quyết liệt này là sự răn đe, lời răn dạy nghiêm khắc của mẹ dành cho con đã làm nên đạo đức mỗi nếp nhà. Qua những mẩu chuyện cụ thể này, ta thấy bổng/ bổng lộc không nhiều, do đó, làm quan nếu liêm khiết ắt không thể giàu nứt đố đổ vách. Họ vì phận sự mà làm việc nước, lo cho dân chứ nào  phải vì bổng lộc. Đáng kính thay.

Trở lại với câu chuyện chữ nghĩa đang bàn, ta thấy sau khi chế độ quân chủ không tồn tại, nhưng từ “bổng” vẫn không mất đi. Do đó, với từ “lương”: “Tiền công trả định kỳ, thưởng là hàng tháng cho cán bộ công nhân viên”, còn có cách nói “lương bổng”: “Lương của quan lại, của cán bộ viên chức nói chung”, theo “Đại từ điển tiếng Việt” (1999).

Tuy nhiên tùy ngữ cảnh nữa, thí dụ anh A hỏi cô B: “Qua công ty mới, lương bổng ngon không?”. Câu trả lời: “Lương chỉ bèo như con cá kèo nhưng bổng không phải ngon mà rất ngon”, tức ngoài lương còn có thêm nhiều khoản thu nhập khác. Đi làm công ăn lương, nếu được “Lương cao bổng hậu”, mỗi tháng đến ngày ký nhận hoặc nhận chuyển khoản ATM ắt ai đó trong lòng “trống giong cờ mở”. Ngược lại, nếu chỉ ba cọc ba đồng, chỉ “bò chét nhét miệng hùm” ắt họ lại len lén thở dài: “Lương lậu rõ chán”.

Cơn cớ làm sao lại xuất hiện từ “lương lậu”?

Tạm thời suy luận rằng, ở trong Nam con lươn (đồng âm với lương) còn gọi là lịch, do đó ta có từ đôi “lươn lịch” là hiểu theo nghĩa: “Cũng là lươn lịch cùng nhau một phồn”. Phồn nghĩa là phường, là cùng hội, cùng nhóm, cùng băng, cùng bè... Trong khi đó, “Việt Nam tự điển” (1931) ở ngoài Bắc cho biết còn có tên gọi khác: “Lệch: Tức là con nhệch, một thứ lươn bể”. Câu mắng của người miền Nam: “Đồ lươn lệch” hàm nghĩa ám chỉ sự tráo trở, mặt trái mặt phải, lươn lẹo…

Một khi trong lời ăn tiếng nói đã có các từ liên quan đến lương như lương tâm, lương bằng lương tri, lương tướng, lương duyên v.v… thì cách nói tếu táo “lươn lịch” cũng nhằm hiểu là nói về lương nói chung. Thế nhưng một khi nhận đồng lương “cùi bắp”, chỉ ít ỏi thì không thể dùng từ “lịch” bởi lịch thường hiểu là “đẹp đẽ, xinh tốt” (Đại Nam quấc âm tự vị, 1895). Thế thì, một khi nhận đồng lương bèo bọt, bèo nhèo, chẳng ra gì thì từ “lươn lịch/ lương lịch” đã có, đã quen thuộc, người ta mới dùng từ trái nghĩa của nó là “lương lậu”. Trái nghĩa với lịch là lậu - hiểu theo nghĩa bỉ lậu, xấu, sơ sài, nông cạn… Sự chọn lựa này “đẹp đôi” và hợp lý quá.

 Ơ kìa, có nhiều từ trái nghĩa với “lịch” nhưng tại sao người ta lại chọn “lậu”, cố tình cho chúng “bắt bồ” với nhau? Đơn giản chỉ vì hai từ này cùng bắt đầu với “l/ lờ” ắt tạo ra cách nói vừa mang tính bông phèn, mỉa mai lại vừa phát âm nhịp nhàng, dễ nhớ.

Trở lại với chuyện bổng/ bổng lộc đã có từ thời nhà Lý, thiết tưởng cũng nên nhắc lại quan điểm của nhà sử học Ngô Thì Sĩ. Ông hoàn toàn có lý khi cho rằng: “Kinh thi có nói: “Người làm quan có đầy đủ thì mới bắt làm điều thiện được”, bởi vì triều đình có gia ơn cho người làm quan thì người làm quan mới gia ơn cho dân được. Phàm người thấy vật đáng thích mà lòng không thích, như Dương Chấn từ chối vàng, như Ôn Tầu từ chối tiền, thì có được mấy người?

Không thế thì năm được mùa mà con kêu đói, năm ấm mà vợ kêu rét; đã có thơ Bắc môn than thở cảnh nghèo thì cũng có thơ Đại phong chỉ trích lòng tham, đó cũng là thường tình của người ta tất đến thế. Đem đạo thánh hiền để trách thói đời, không bằng đem đạo bình thường để sửa đổi lòng người. Nếu đem dê cho chó sói chăn, đem vịt làm mồi cho chim cắt, thế là để mặc cho nó xâu xé. Nếu không định bổng lộc thì tệ sinh ra không thể nói xiết được. Lời xưa nói: “Bớt quan thì yên dân”. Việc trị nước thì nuôi dân là trước hết. Bởt quan lại, định bổng lộc, đó là việc đầu tiên để nuôi dân” (T.1, tr, 541).

Khi ta bàn về chữ nghĩa, hỡi ôi, nào chỉ là câu chuyện của chữ nghĩa. Vấn đề thời sự trong dòng chảy của ngày hôm nay đấy chứ. Có điều những người làm quan thời buổi này bổng lộc không thiếu, thậm chí thừa mứa, dư ăn dư mặc nhưng rồi cuối cùng chúng lại vẽ nhọ bôi hề trở thành kẻ đáng khinh bỉ: quan tham. Do đâu? Chúng chỉ đáng trở thành củi ném toẹt vào lò của cụ Tổng đang khơi dậy lòng tin mãnh liệt trong dân. Dân tình hả hê lắm. Bàn chữ nghĩa về lương bổng, bổng lộc, há chẳng phải là lúc ôn cố tri tân về bài học làm quan đó sao? 

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?