Lửa chiến âm ỉ dưới giá băng Nam Cực

Suốt quá trình trỗi dậy và bành trướng lãnh thổ trong Đệ nhị Thế chiến, chiến trường chính của quân đội Đức Quốc xã hầu như chỉ tập trung ở cựu lục địa - nơi Adolf Hitler muốn giành được nhiều "không gian sinh tồn" nhất cho "chủng tộc Aryan thượng đẳng". 

Tuy nhiên, ít ai biết, để phục vụ những tham vọng còn lớn lao hơn cũng như những nhu cầu tương đối bức thiết từ thời cuộc, Nam Cực - mảnh đất lạnh giá vắng dấu chân người - cũng đã từng được đặt vào tầm ngắm của nhà độc tài Đệ tam Đế chế.

Đoàn viễn chinh Nam Cực

Được mệnh danh như vậy, nhưng "Đoàn viễn chinh Nam Cực" đầu tiên được Adolf Hitler phái đi chỉ gồm 33 quân nhân cường tráng (và cực kỳ trung thành với chế độ Quốc xã), cùng chiếc hải hạm mang tên MS Schwabenland (được đóng năm 1925). Họ được dẫn đầu bởi Alfred Rischer, người được tấn phong làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Nam Cực.

Theo tờ The Globe Times tìm hiểu sau này, thậm chí, để bảo đảm an toàn tuyệt đối cho chuyến hải hành, trước khi Schwabenland lên đường, cơ quan cảnh sát mật Gestapo của Đức Quốc xã đã tiến hành thêm một lần sát hạch. 

Kết quả: Chỉ có 24 người đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn, và lên đường. 9 người còn lại bị loại. Lúc Schwabenland nhổ neo rời cảng Hamburg (tháng 12-1938, nghĩa là cách đây đúng 80 năm), Gestapo còn cảnh cáo: Ai tiết lộ bí mật nhiệm vụ, nhân thân người đó sẽ lập tức bị đưa vào trại tập trung - nơi tất cả đều hiểu là "địa ngục trần gian".

Tháng 1-1939, thủy thủ đoàn của Schwabenland đặt chân lên miền "Đất Nữ hoàng Maud" (Queen Maud Land, vốn rộng tới 2,7 triệu km²) ở Nam Cực, nơi Na Uy tuyên bố chủ quyền.

Chỉ trong vòng vài tuần, những máy bay cất cánh từ đường băng trên Schwabenland đã thực hiện tổng cộng 15 chuyến bay khảo sát, trên một khu vực rộng tới 600.000km², chụp hơn 10.000 tấm ảnh. 

Máy bay cất cánh từ đường băng tàu MS Schwabenland.
Máy bay cất cánh từ đường băng tàu MS Schwabenland.

Và sau đó, những lá cờ ba màu đen - trắng - đỏ mang biểu tượng thập ngoặc được cắm xuống. Nước Đức Quốc xã tuyên bố chủ quyền từ 20 độ kinh Đông đến 10 độ kinh Tây trên vùng này, đổi tên nó thành Neuschwabenland.

Cái tên ấy được quốc tế hóa thành New Swabia (Miền Swabia mới). Swabia, chính là tên con tàu MS Schwabenland, cũng là tên một vùng đất cổ xưa mang tính "phát tích" của dân tộc Đức. Đặt chúng cạnh nhau, không cần quá cố gắng, ai cũng có thể cảm nhận được quyết tâm chinh phục miền băng giá này của Adolf Hitler.  

Tháng 2-1939, tàu MS Schwabenland lại lên đường, trở về Đức từ Neuschwabenland.

Khởi nguồn của tham vọng

Cho dù sau này, Neuschwabenland được gửi gắm khá nhiều toan tính vĩ mô mang tính chất chiến lược địa chính trị cũng như địa quân sự của nhà độc tài Đức Quốc xã, thì đầu tiên, việc hướng tầm mắt đến Nam Cực lại hoàn toàn chỉ nhằm phục vụ những nhu cầu "trần tục" của xã hội và người dân Đức.

Đầu thập niên 1930, dầu cá voi chính là nguyên liệu chủ yếu được ngành công nghiệp Đức (cũng như quốc tế) lựa chọn để sản xuất xà phòng và bơ Margarine. 

Ở thời điểm đó, các đội tàu săn cá voi của Na Uy chiếm vị trí quán quân về sản lượng săn bắt cá voi trên thế giới. Mỗi năm, nước Đức phải nhập từ Na Uy khoảng 200.000 tấn dầu cá voi, để đáp ứng nhu cầu trong nước. Na Uy xây dựng được nhiều trạm căn cứ cho các đội săn bắt cá voi hoạt động ở Nam Cực, và không ít quan chức Đức Quốc xã cũng đã lên tiếng đề nghị xây dựng những trạm như vậy, cho các đội tàu Đức.

Nhưng, nước Đức, đến lúc ấy, chưa từng sở hữu đất đai ở Nam Cực. Cho đến năm 1938, khi một đội tàu săn bắt cá voi của Đức trở về thành công rực rỡ, và cũng là khi Adolf Hitler cảm thấy đã sẵn sàng cho những cuộc chinh chiến long trời lở đất, động lực mới trở nên thực sự mạnh mẽ. 

Theo kế hoạch của mình, sau khi sáp nhập Áo, xé lẻ và thôn tính Tiệp Khắc, đánh chiếm Ba Lan, nước Đức Quốc xã sẽ phải đánh bại Pháp, rồi đọ đầu trực tiếp với Anh - đệ nhất cường quốc trên biển, cũng là giống dân mà Adolf Hitler đánh giá là "can trường và bền bỉ, có nhiều nét tương đồng với chủng tộc Aryan" (theo cuốn Hitler và các danh tướng Đức Quốc xã - Raymond Cartier). Chuẩn bị cho điều đó, hải quân Đức rất cần các căn cứ trên các hải trình.

Và Nam Cực là một nơi tương đối dễ giành giật. Hải quân Na Uy, cũng như tiềm lực quân sự của Na Uy, không đáng sợ như hải quân Anh, không đáng gờm như hải quân Pháp hay hải quân Hà Lan, cũng không quá gần gũi để phải "khó ăn khó nói" như hải quân các nước phát xít Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.

Tàu MS Schwabenland.
Tàu MS Schwabenland.

Giấc mơ chết yểu

Chuyến trở về trong thành công của tàu MS Schwabenland đã tạo nên rất nhiều phấn khích cho Adolf Hitler. 

Thực ra, trong khoảng một tháng ở Neuschwabenland, thủy thủ đoàn dưới tay Alfred Rischer đã kịp xây dựng một căn cứ nhỏ, đủ để làm bàn đạp cho các cuộc thám hiểm sâu vào bên trong phần lục địa. Máy bay đã phát hiện thấy suối nước nóng và một số hệ sinh quyển với thực vật phong phú, đủ để vạch ra các kế hoạch lớn hơn nữa.

Việc xây dựng căn cứ quy mô hơn, trong các giai đoạn thời tiết thuận lợi của năm 1939-1940 và 1940-1941 đã được Hitler chuẩn y. Tuy vậy, lịch trình đã không thể diễn ra như dự kiến, với quá nhiều biến cố của đoạn đầu Đệ nhị Thế chiến. 

Xâm chiếm Ba Lan, đánh tan quân đội Pháp để vào duyệt binh ở Paris trong thời gian kỷ lục, nhưng eo biển Manche trong vai trò con hào tự nhiên cùng sự quả cảm của binh sĩ Anh đã khiến những trận không kích điên cuồng của không quân Đức vào Luân Đôn không đạt được hiệu quả như mong muốn.

Lục quân Đức quay sang phía Đông, và cỗ máy chiến tranh lại phải tận lực phục vụ hướng đi ấy. Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của Hồng Quân Liên Xô làm phá sản mọi toan tính của quân đội Đức, chưa kể đến những lần Adolf Hitler phải ra lệnh chia quân xuống cứu quân phát xít Ý đồng minh ở Nam Âu hay Bắc Phi, cũng chưa kể đến những sự thiếu hụt không thể bù đắp về hậu cần.

Và dự án về căn cứ quân sự ở Nam Cực vẫn mãi chỉ là những phác thảo trên giấy. Cho dù, năm 1940, sau khi đánh bại Pháp, Tổng tư lệnh Hải quân Đức - đô đốc Erich Johann Albert Raeder đã được lệnh nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa tính khả thi của dự án này, nhằm giành quyền kiểm soát Nam Đại Tây Dương. 

Cho dù, mùa Giáng sinh năm 1940 ấy, hải quân Đức đã chiếm đảo Kerguelen ở Nam Ấn Độ Dương, xây dựng căn cứ tập kích tàu thuyền của phe Đồng minh. 

Cho dù, Na Uy không có cách nào ngăn quân Đức bành trướng quanh những vùng duyên hải còn lại của Queen Maud Land. Cho dù, Tư lệnh binh chủng tàu ngầm Đức - Đô đốc Karl Doenitz - cũng đã nhận lệnh trực tiếp từ Hitler, về việc phải xây dựng bằng được một căn cứ quân sự đúng nghĩa ở Neuschwabenland.

Doenitz hiểu rất rõ tầm quan trọng của một căn cứ như vậy, khi chính ông là cha đẻ của "chiến thuật bầy sói" (tập kích bất ngờ, chia cắt và rút lui nhanh) dành cho lực lượng tàu ngầm của mình. Song, điều khiến ông do dự là điều kiện tự nhiên khắc nghiệt ở Nam Cực tạo nên quá nhiều rủi ro cho những tham vọng, đặc biệt là khi không thể tiếp vận suôn sẻ.

Không chỉ vậy, hải quân Anh cũng đã cảm nhận và phán đoán được ý đồ của Hitler, kể cả từ thực địa lẫn từ các nguồn tin tình báo. Từ năm 1941, tàu chiến Anh các loại tăng cường tập trung về khu vực ấy. Họ phá hủy mọi căn cứ của Na Uy, nhằm ngăn Đức tận dụng.

Karl Doenitz buộc phải trì hoãn, buộc phải thuyết phục Hitler nhẫn nại. Và lần trì hoãn này trở thành mãi mãi, bởi cho đến khi lá cờ chiến thắng của Hồng quân Liên Xô tung bay trên nóc tòa nhà Quốc hội Berlin, không còn cơ hội nào để nước Đức Quốc xã mơ mộng đến Nam Cực - Neuschwabenland của họ nữa.

Đến cả những đòi hỏi, yêu cầu, năn nỉ kéo dài suốt cuộc chiến của Karl Doenitz, về việc đầu tư tăng cường sức mạnh cho lực lượng tàu ngầm, cũng hầu như chẳng được đáp ứng bao giờ...

* Schwabenland không chỉ là một chiến hạm hay một tàu vận tải bình thường. Với sự ưu ái của các lãnh đạo cao cấp Đức Quốc xã, nó được trang bị đạt chuẩn gần như một tàu sân bay cỡ nhỏ, để có thể dễ dàng nhận các chuyến tiếp vận bằng đường không.

* Alfred Rischer (23/5/1879 - 30/3/1963), trước khi nhận nhiệm vụ chỉ huy Schwabendland, là một thuyền trưởng, một nhà thám hiểm, cũng đã từng là một quân nhân lừng danh của nước Đức trong Đệ nhất Thế chiến.  

Thiên Thư

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?