Khuê Văn các: Biểu tượng và nguồn gốc

Khuê Văn các là một đơn nguyên kiến trúc nằm trong tổng thể của Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Hà Nội). Khuê Văn các, Liên Hoa đài chùa Diên Hựu và tháp Rùa hồ Gươm là những công trình kiến trúc cổ truyền được coi như là cụm di tích tiêu biểu của mảnh đất ngàn năm văn vật...

Từ năm 1997 đến nay, Khuê Văn các đã được UBND thành phố Hà Nội chọn làm biểu tượng chính thức của Thủ đô. Bài viết này sẽ góp phần tìm hiểu ý nghĩa biểu tượng của gác Khuê Văn từ góc độ biểu tượng tôn giáo, đồng thời cũng sẽ giới thiệu về nguồn gốc của kiến trúc này trong so sánh với văn hóa Đông Á.

Ý nghĩa biểu tượng trong văn hóa Việt Nam thế kỷ XIII- XIX

Khuê Văn các trước nay được diễn giải theo nhiều cách khác nhau. Đại ý rằng: "Khuê" tức là ngôi sao sáng, Khuê Văn các là biểu hiện đỉnh cao của trí tuệ, là sự nhắc lại chân lý "Hiền tài là nguyên khí quốc gia" trên văn bia Văn Miếu.

Khuê Văn các có 8 mái, 2 tầng, nóc ở trên là 9. Theo Kinh Dịch, các số lẻ là dương, biểu hiện sự sinh sôi nảy nở. Gần Khuê Văn các là Thiên Quang tỉnh hình vuông, tượng cho mặt đất, các cửa sổ tròn của gác Khuê Văn tượng cho bầu trời, là nơi tập trung mọi tinh hoa của đất trời... Bởi thế, Khuê Văn các là biểu tượng cho mong ước phát sinh, phát triển của con người, vừa phù hợp với tư duy, ước vọng của người xưa, vừa đáp ứng được mong muốn phát triển của thời nay. (Chuyển dẫn theo Đức Huy, “Vằng vặc sao Khuê”...).

Đoạn trên cho thấy, tác giả đã giải thích Khuê Văn các - một biểu tượng của Nho giáo, qua lăng kính lý thuyết của âm - dương gia (Trung Quốc) và tín ngưỡng phồn thực (Việt Nam). Những mô tả di tích mang tính trực quan “hình tròn của gác Khuê Văn”, “hình vuông của giếng Thiên Quang”, lần lượt tương ứng với “âm” và “dương”. Hệ quả của “âm - dương”, đó là sự “sinh sôi nảy nở”.

“Âm” và “dương” là hai khái niệm của Nho gia đã được tiếp thu từ âm - dương gia. Tuy nhiên, tác giả lại không cho biết sử liệu nào đã thuyết minh về ý nghĩa biểu tượng của công trình kiến trúc này. Cách làm việc ấy khiến chúng tôi có cảm tưởng rằng gác Khuê Văn đang được người đời sau sáng tác thêm những ý nghĩa mới.

Chúng tôi quan niệm, muốn hiểu được ý nghĩa của một biểu tượng bất kỳ nào đó, chúng ta đều phải dựa vào các sử liệu thành văn cũng như hiện vật vật chất của chính chủ thể sáng tạo ra nó. Ở đây, muốn hiểu được ý nghĩa biểu tượng của Khuê Văn các, trước tiên chúng ta phải đi tìm những phát ngôn của các nhà Nho xưa có liên quan đến biểu tượng này. Đó là các câu đối cũng như văn bia tại Văn Miếu như trình bày dưới đây.

Câu 1: Sao Khuê sáng giữa trời, nhân văn mở rộng/ Nước Bích sâu vào mùa xuân, mạch đạo dài.

Câu 2: Các sao Đẩu, Khuê, Lâu, Bích soi sáng văn chương/ Các sông Hoài, Hán, Giang, Hà nối dài mạch đạo.

Như vậy, trong Văn Miếu còn có một số câu đối khác có nhắc đến hình tượng sao Khuê, trong đó sao Khuê thường đi cùng các khái niệm “văn chương” và “đạo mạch”.

Khảo trong các văn bia đề danh tiến sĩ tại Văn Miếu, chúng tôi thấy có đến cả chục lần hình ảnh sao Khuê xuất hiện. Vị trí trang trọng nhất thường là đứng mở đầu cho bài văn bia đó. Ví dụ một số đoạn như sau, văn bia khắc năm 1653 do Trịnh Cao Đệ soạn bắt đầu bằng hình ảnh: “Trời mở thái bình, sao Khuê rạng soi văn trị, ý là có bậc vua sáng mở mang giáo hóa cho đời chăng?”; văn bia khắc năm 1717 do Bùi Sĩ Tiêm soạn: “Bấy giờ, sao Khuê, sao Bích sáng hừng, nhân tài đều xuất hiện”; văn bia khắc năm 1721 do Nguyễn Kiều soạn: “Kính nghĩ: quốc triều khai mở vận hội, thánh đế thánh vương nối truyền, sắp đặt quy củ, sùng chuộng Nho học, chấn hưng nhân văn. Phàm những người đăng khoa đều cho dựng bia lớn để truyền bá vẻ sáng sao Khuê, sao Tảo, nêu rõ họ tên để rạng rỡ đến đời sau”.

Đến đây, có thể đi đến nhận định rằng, trong quan niệm của các nhà Nho đời xưa ở nước ta, có một số sao chủ về văn học, trong đó sao Khuê là ngôi sao quan trọng nhất. Sao Khuê là biểu tượng của khoa bảng, của thái bình, của văn trị, của văn chương, của giáo hóa. 

Hình tượng sao Khuê cũng đã xuất hiện vào thế kỷ XV qua câu thơ của hoàng đế Lê Thánh Tông, khi ông ca ngợi Nguyễn Trãi: “Ức Trai tâm thượng quang Khuê - Tảo” trước nay vẫn được “dịch thô” là “Ức Trai lòng sáng như sao Khuê”, thực chất nên hiểu hàm ý ca ngợi tài năng văn chương của nhà Nho này. Đúng như đích thân lời chú thích của Vua Lê Thánh Tông như sau: “Thừa chỉ Quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu Ức Trai, đậu đại khoa từ triều Hồ. Khi Thánh tổ ta mở cơ nghiệp, quy phục ở Lỗi Giang, trong thì trù mưu nơi màn trướng, ngoài thì thảo văn thư chiêu dụ các thành, văn chương làm vẻ vang cho nước”.

Hay như trong lời ca ngợi của tiến sĩ Ngô Thế Vinh, đó là “đỉnh cao của thứ văn chương đủ sức sửa sang việc đời”. Hay trong bài viếng Hưng Đạo đại vương (1232-1300) của Phạm Ngũ Lão cũng có câu: “Ngưỡng quan khuê tảo từ phi dật, ngư thủy tình thâm kiến vịnh thi” được giáo sư Đỗ Văn Hỷ dịch chính xác rằng: “Ngước xem văn chương lời cô đúc, tình sâu cá nước rõ ở thơ vịnh”.

Như vậy, từ cuối thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX, sao Khuê đã đi vào văn học cũng như tâm thức văn nhân Đại Việt như là một biểu tượng của văn chương hành đạo - văn chương của những nhà Nho “nhập thế”.

Sao Khuê - Khuê Văn các: hay sự nhượng bộ của Nho giáo trước Đạo giáo

Theo như nhiều thông tin phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng, Khuê Văn các được quan Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành (1758-1817) xây dựng vào mùa thu năm 1805 dưới thời kì trị vì của Vua Gia Long Nguyễn Phúc Ánh nhà Nguyễn. Nếu như thông tin trên là đúng thì niên đại sớm nhất để xác định sự xuất hiện của Khuê Văn các tại Văn Miếu Hà Nội là vào đầu đời Nguyễn.

Mặt khác, có thể nói rằng, Khuê Văn các là công trình độc đáo duy nhất tại Việt Nam trong suốt ngàn năm lịch sử, bởi lẽ trong số hơn 20 Văn Miếu ở khắp nơi trên đất nước thì chỉ có Văn Miếu tại Hà Nội mới có đơn nguyên kiến trúc này. Một số bài báo đã ca ngợi đây là một biểu tượng đầy bản sắc của dân tộc, chỉ riêng có ở Việt Nam. Thực tế, không hẳn là như vậy.

Đến đây chúng tôi muốn giới thiệu thêm về sao Khuê trong văn hóa phương Đông. Sao Khuê là ngôi sao đứng đầu trong 7 vì sao thuộc chòm Bạch Hổ, trấn ở phương Tây và thuộc về nhị thập bát tú. Hình tượng này vốn bắt nguồn từ văn hóa sùng bái tinh tú vào thời cổ đại. Trong quá trình phát triển và du nhập từ dân gian vào Đạo giáo, sao Khuê đã được hình tượng hóa và trở thành một vị thần nắm giữ mệnh vận của văn nhân.

Quá trình thần thánh hóa khiến cho vị thần sao Khuê có dáng dấp là một hình thần quỷ tóc đỏ, mặt xanh, nanh vượn, một tay cầm đấu, một tay cầm bút. Bút ấy điểm trúng ai thì người đó sẽ trúng đại khoa. Từ đó, thần được coi như là người cai quản quan lộc (tư lộc). Sao Khuê về sau còn hòa nhập với sao Khôi (Văn Xương tinh, Văn Khúc tinh). Chức năng chính của nó vẫn là “thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân”.

Khuê Văn các không chỉ có ở Việt Nam mà còn xuất hiện trong rất nhiều địa điểm ở những nơi chịu ảnh hưởng của Nho giáo như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc. Khuê Văn các có niên đại sớm nhất được biết, đến nay, là di tích trong Khổng Miếu tại Khúc Phụ (Trung Quốc). Gác này được đặt tên như vậy vào năm 1191 đời Kim Chương Tông nhà Bắc Tống. Đến đời Tống, Đạo giáo phát triển rất mạnh. Hàng loạt vị thần Đạo giáo đã có những “lấn lướt” trên đời sống tâm linh của xã hội. Đặc biệt là thần sao Khuê. Chính vì thế, các nhà Nho và thế lực chính trị đã phải đưa “Khuê tinh” vào hệ thống thờ tự của mình bằng cách “Nho giáo hóa” vị thần này. Khổng Tử có thụy hiệu là “Văn Tuyên Vương”, đồng thời huyền thoại “Khổng Tử nắm Khuê tinh” (chủ về văn chương) cũng đã được xây dựng nên.

Nhà Tống đã biến Tàng Thư các trong Khổng Miếu thành Khuê Văn các. Và đây cũng chính là lý do khiến nhiều kiến trúc này ở Trung Quốc còn được gọi là “Văn Xương cung”, hay “Khôi tinh các”, “Văn Xương các”, “Khuê Quang các”...

Như vậy, ngay ở trong thời điểm hình thành của nó, Khuê Văn các đã bao hàm trong đó nhiều ý nghĩa và chức năng. Trước tiên về mặt công dụng thì Khuê Văn các là một gác để chứa sách vở, tức là một thư viện để tàng trữ kinh điển. Về mặt biểu tượng thì nó đồng thời là sự cài ghép giữa thụy hiệu (Văn) và sao mệnh (Khuê) của Khổng Tử. Nói cách khác, Khuê Văn các là một công trình tưởng niệm công lao san định sách vở của Khổng Tử bằng cách cất giữ các kinh điển của Nho giáo.

Đời Tống - Nguyên là thời kỳ cực thịnh của Đạo giáo và cũng là thời mà nhiều yếu tố Đạo giáo hòa nhập sâu nhất vào văn hóa Nho giáo tại Đông Á. Việc thờ cúng sao Khuê của nhà Nho đã có sự phát triển lớn dưới sự ảnh hưởng sâu rộng của tín ngưỡng thờ Văn Xương đế quân trong dân gian. Tín ngưỡng này được đưa lên đỉnh cao bởi một nguyên nhân tối quan trọng: đó là sự tuyệt đối hóa khoa cử vào đời Tống - Nguyên trở về sau.

Trọng khoa cử sẽ dẫn đến trọng đỗ đạt, danh vọng, phẩm trật, tước lộc. Hàng ngàn thế hệ Nho sĩ đã lấy nghiệp cử tử trở thành mục tiêu tối thượng. Và ở Việt Nam, tư duy này đã trở thành một căn tính ăn sâu vào tiềm thức dân tộc cho đến ngày nay. Như Trần Chiêu Anh đã nhận xét khi nghiên cứu về Nho học tại Đài Loan đã viết: “Hiện tượng giai tầng Nho sinh coi tín ngưỡng thờ Văn Xương là công cụ để có được khoa danh đã thành hiện tượng rất phổ biến, nó tiêu biểu cho trào lưu “Nho học dung tục hóa” (vulgar Confucianism)”.

Riêng ở Việt Nam, tín ngưỡng thờ Văn Xương đế quân hiện vẫn còn được biết đến qua 3 di tích cổ là đền Ngọc Sơn, đền Thượng, đền Hoàng Xá và có thể còn được thờ ở nhiều thiện đàn trong phong trào chấn hưng dân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX.

Có thể nói, Khuê Văn các là một công trình kiến trúc của Nho giáo. Về mặt biểu tượng, đó là một sự tiếp thu của thần “tư lộc” (Khuê tinh, Văn Xương đế quân) của Đạo giáo. Khuê Văn các tại Văn Miếu (Hà Nội) gần như không có chức năng chứa sách như ở Trung Quốc mà chỉ mang tính chất tưởng niệm Khổng Tử và văn hóa Nho giáo. Nếu như Khuê Văn các ở Trung Quốc hoành tráng về quy mô thì ở Việt Nam, dạng kiến trúc nhỏ nhắn, đơn giản nhưng đầy tính mỹ học của nó lại đem nhiều cảm hứng nhân văn cho người Việt.

Cái giá trị về kiến trúc đã đồng dạng, nhất thể hóa với giá trị biểu tượng của nó. Qua những ngữ liệu tại chính Văn Miếu mà chúng tôi đã phân tích ở trên, Khuê Văn các còn hàm chứa trong đó những giá trị riêng có của lịch sử và văn hóa Việt Nam.

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?