Khổ, cực rồi cực sướng…

Theo quan niệm của người xưa, chẳng biết căn cứ vào đâu lại cứ “nói như thiệt”: “Con gái giống cha giàu ba đụn, con trai giống mẹ khó sụn xương”.

Đụn là đống cao, thường nói về rơm rạ như đụn rơm, đụn thóc; sụn là khuỵu xuống, lún, sụp. Vậy, khó trong câu trên nghĩa là gì? Thỉnh thoảng khi đọc ca dao, thành ngữ, lại bắt gặp từ khó này, tỷ như “Người khôn của khó”, “Khó muốn giàu, đau muốn dã”; “Khó giữ đầu, giàu giữ của”; “Giàu ăn khó chịu”; “Con chẳng chê cha mẹ khó, chó chẳng chê chủ nghèo”; “Khó chó cắn thêm”; “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”… 

Khó ở trong các câu này, hàm nghĩa là nghèo ngặt, túng bấn, nghèo rớt mồng tơi, nghèo xơ nghèo xác...

Tuy nhiên không chỉ có thế. Đọc lại các văn bản ngày trước, ta gặp những từ liên quan đến khó như khăn khó - liệu có phải là cách nói ngược của… khó khăn? Không, khăn khó là khăn bịt đầu bằng vải trắng trong việc tang. Khó là từ chỉ việc tang chế, đôi khi người ta chỉ dùng mỗi từ chế - như truyện thơ nôm “Phạm Công Cúc Hoa” có câu: “Ba năm thủ chế cứ nằm gường không”. Khăn khó cũng là khăn chế. “Bậu để chế cho ai mà tóc mai rành rạnh/ Để chế mẹ chồng vậy hiếu hạnh ở đâu? (ca dao). Tùy vùng miền, ngoài từ khăn khó/ khăn tang/ khăn chế, còn có cả khăn trắng, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) ghi nhận và còn cho biết thêm: “Khăn đẹp: Khăn tang, theo cách nói tránh đi đối với người già chết”.

Còn từ tương đương nào nữa không?

Ta hãy đọc câu ca dao: “Hàng xóm còn trở ba ngày/ Chồng cô, vợ cậu một ngày cũng không”, ta chú ý từ trở. “Việt Nam tự điển” (1931) giải thích: “Dùng trong tiếng Nam có nghĩa là có tang, bị ngăn cấm không được dự vào tiệc vui mừng: Nguời có trở không được đi ăn cưới”. Do từ trở này phai nghĩa theo thời gian, vì thế câu ca dao trên bèn được nhiều người ghi nhận: “Hàng xóm còn để ba ngày”. Nhân đây xin nói luôn, từ câu này khiến ta liên tưởng đến câu: “Chồng cô, vợ cậu, chồng dì/ Trong ba người ấy chết thì không tang”, thiết nghĩ quan niệm này cần thay đổi.

Ai cũng thừa biết rằng, khó còn là từ dùng để chỉ việc rắc rối, phức tạp, nhọc công nhọc sức, phải vất vả nhưng chắc gì đã làm được, hiểu được, thực hiện xong. Một loạt câu có từ khó theo nghĩa này, có thể kể đến To đầu khó chơi; Kén dâu thì dễ, kén rể thì khó; “Đạo cang thường khó lắm bạn ơi/ Chẳng dễ như ong bướm đậu rồi lại bay” v.v… Thế nhưng dù cũng là khó nhưng lại được sử dụng để nói về tính tình, tính nết, tâm trạng...

Thí dụ, anh A nhận xét: “Thằng chả mặt khó đăm đăm, coi bộ khó ăn khó nuốt đây”, ta hiểu là người đó mang bộ mặt cau có khó ưa; và khó ăn khó nuốt ở đây chẳng liên quan gì đến ăn với uống mà ngụ ý về công việc nào đó sắp bàn đến có thể sẽ gặp khó khăn. Nghe thế, chị B đáp: “Đúng thế, thiệt khó ăn khó nói”, cũng chẳng hề có ăn uống gì sất mà chỉ là bày tỏ sự phân vân chưa biết nói làm sao với “thằng chả”. Ngần ngừ một lúc, anh A suy đoán: “Đừng trông mặt mà bắt hình dong, chẳng qua, thằng chả đang khó ở đấy thôi”. Câu này ý muốn nói sự biểu hiện bề ngoài trông khó coi, chẳng qua vì người đó đang khó chịu, mệt mỏi trong người, có thể đau ốm nhẹ gì đó. Chị B gật gù đồng tình.

Sau khi cả hai tiếp cận với “thằng chả”, anh A nhận xét: “Biết ngay mà, hắn ta thuộc loại khó người dễ ta. Khó chơi quá. Hễ nói ra câu nào là khó nghe, khó ngửi câu đó. Khó tính thiệt”. Khó người dễ ta là ám chỉ kẻ ích kỷ, khắt khe, “Của mình thì giữ bo bo/ Của người thì để cho bò nó xơi”, không thèm đoái hoài quan tâm đến người khác, còn đối với mình lại dễ dãi. Chơi trong ngữ cảnh này chẳng phải chơi bời, đàn đúm mà ngầm ý kẻ đó khó kết thân, không dễ hợp cạ; khó nghe cũng không phải do kẻ đó nói nhỏ, nói lí nhí trong miệng mà nói năng vô lý, ngược ngạo khiến người đối diện khó nghe khó ngửi, tức là không thể chấp nhận được.

Vế cuối của câu này: “Khó tính thiệt”, ta có thể hiểu là nhận xét kẻ đó thuộc loại khó tính khó nết; nhưng cũng có thể là kết luận sau khi trao đổi khiến họ ngắt ngứ chưa biết tính toán những bước tiếp theo sao cho xuôi chèo mát mái. Nghe thế, chị B thở dài: “Đến nước này, khó lòng thiệt”. Khó lòng lại là câu nói biểu hiện tâm trạng thừa biết tỏng sự việc vừa bàn bạc rất khó thành công. Tuy nhiên, anh A vẫn lạc quan: “Khó thì khó. Cái khó ló cái khôn”, tức là trong lúc khó khăn dẫu đến đâu đi nữa thì người ta cũng nảy ra sáng kiến mới, ý kiến hay để tháo gỡ cho hanh thông…

Tùy theo nghĩa của từ khó, nếu khó hiểu theo nghĩa nghèo nàn, túng bấn thì từ trái nghĩa là giàu. Tục ngữ, thành ngữ đã so sánh cực kỳ chính xác, có thể kể đến: Giàu lo bạc, khó lo cơm; Giàu cơm ăn ba bữa, khó cũng đỏ lửa ba lần; Giàu chuộng, khó vong; Số giàu trồng lau hóa mía, số nghèo trồng củ tía hóa bồ nâu v.v… Tất nhiên, giàu không chỉ trái nghĩa với khó mà còn với nghèo nữa như Giàu khó tìm, nghèo khó lánh; Nghèo ngáy sâu, giàu lâu ngáy…; thậm chí còn trái nghĩa với bần như Giàu hay mần, bần hay ăn

Trái nghĩa với khó/ khó khăn lập tức ta nghĩ đến từ thuận lợi hoặc dễ/ dễ dàng. Dễ có nhiều cách diễn đạt như dễ ợt, dễ ẹt, dễ như lật bàn tay, dễ như bỡn, dễ như ăn gỏi, dễ như chẻ tre, dễ như chơi… Có lẽ nhiều người vẫn còn nhớ đến sự đối lập dễ - khó trong câu thơ của Thanh Tịnh viết năm 1951: “Dễ vạn lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”, câu này thời nào cũng đúng.

Khó, trong ngữ cảnh nào đó cũng có thể hiểu là cực, là khổ, là nghèo. Với từ cực, ta nhớ MV “Trời hôm nay nhiều mây cực” của Đen Vâu đã từng  giữ vị trí top 1 trending YouTube. Thử hỏi, “mây cực” là loại mây gì? Lâu nay, ta chỉ mới nghe đến “Trên trời có đám mây xanh/ Ở giữa mây trắng chung quanh mây vàng” (ca dao); hoặc “Mây hồng ngừng lại sau đèo/ Mình cây nắng nhuộm, bóng chiều không đi” (Thế Lữ) v.v…

Ảnh: L.G
Ảnh: L.G

Còn “mây cực”, nó ra làm sao?

Trước hết, với từ cực, hẳn nhiều người còn nhớ đến câu: “Gánh cực mà đổ lên non/ Còng lưng mà chạy, cực còn đuổi theo”. Cực có chân à? Nếu không, làm sao có thể chạy? Chỉ là nhân cách hóa về nỗi cực khổ, cực nhọc cứ bám riết lấy thân phận nghèo khó cực kỳ, muốn thoát ra khỏi nó cũng trần ai khoai củ, chứ không dễ. Dù vậy, với sự lạc quan vốn có, dám vượt qua số phận, người Việt còn có những câu động viên nhau như: “Gừng già gừng rụi gừng cay/ Anh hùng càng cực càng dày nghĩa nhơn”, dẫu có cơ cực đến đâu cũng giữ  lấy nhân cách, tư cách, tự nhủ Đói cho sạch rách cho thơm, chứ không Đói ăn vụng túng làm liều

Đã cực thì khổ, do đó, còn có từ khổ cực/ cực khổ. Vậy, xỏ khổ khác gì với cực khổ? Hỏi thế, bởi đọc ca dao này hẳn ta ngắc ngứ:  “Cái nghề xỏ khổ, tra go/ Nó mất một mối con lo tối ngày”. Khổ ở đây là “Cơ quan trong khung vải, có răng như răng lược, để làm ngữ chiều ngang tấm hàng trong khi dệt” (“Việt Nam tự điển” - 1931). Không chỉ có khổ mà còn có cả go nữa, tức go khổ - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895): “Tiếng kêu chung hai món đồ dùng mà dệt, một thứ kết bằng chỉ đánh để mà lấy chỉ sợi, có thể đưa lên xuống; một thứ làm bằng cây như răng lược, phần đàng chỉ, dập đàng canh”. Với văn bản trên, ta hiểu “xỏ khổ”/ “xỏ khổ tra go” trong câu dao vừa nêu là lấy sợi chỉ luồn qua, xâu vào một bộ phận trong khung cửi của thợ dệt. Chứ xỏ khổ hoàn toàn không liên quan gì đến cực khổ nhằm chỉ sự khó khăn, thiếu trước hụt sau, thiếu thốn hay bị giày vò về tinh thần...

Khi bình thơ, nhiều nhà nghiên cứu cho biết, đại khái, bài này có 4 khổ, thì khổ lại là mỗi đoạn ngắn được tác giả ngăn/ chia trong một bài thơ. Khổ còn có nghĩa là đắng. “Khổ qua xanh khổ qua trắng/ Khổ qua mắc nắng khổ qua đèo/ Anh có thương em thì mần giấy giao kèo/ Dù sanh, dù tử, dù nghèo em cũng theo”. Khổ qua là mướp đắng. Khổ qua đèo là thứ trái èo uột khó lớn được. Tuy nhiên, cũng là đèo, tỷ như “Kẻ sao sung sướng cười reo/ Người sao cực khổ lên đèo xuống hang” thì đèo này lại là đường đi qua núi trong ngữ cảnh lên dốc xuống đèo, trèo đèo vượt suối… Cũng là đèo, một người bảo: “Tớ đèo cậu” thì đèo này lại là chở, cũng hàm nghĩa như cách nói: “Tớ lai cậu”.

Ai cũng biết trái nghĩa với cực khổ là sung sướng. Sướng có nhiều kiểu sướng như sướng rơn, sướng nhu tiên, sướng bằng đỗ trạng… nhưng sướng mạ lại là chỗ ruộng dành để gieo mạ. Không những thế, nếu đọc truyện thơ nôm “Trinh thử”, ta gặp câu: “Cửa nhà lo lắng sớm khuya/ Sướng se mạ cạn đi về xiết bao”. Vậy, sướng se là sướng ra làm sao? Nhà nghiên cứu Nguyễn Thạch Giang cho biết: “Sướng se là ruộng hết nước, mạ bị cạn không đủ nước. Chỉ sự cần mẫn chăm lo ruộng đồng” (“Tiếng Việt trong thư tịch cổ” T.2, NXB Văn hóa Thông tin - 2012, tr. 974).

Nếu sướng có nhiều trạng thái thì cực/ cực khổ cũng thế. Có lẽ oái ăm nhất vẫn là cực chẳng đã, tức là khi đứng trước một tình huống éo le nào đó, dù không muốn nhưng cũng phải nghiến răng, buộc phải làm. Chẳng hạn nhà thơ Tú Mỡ tâm sự lúc làm nghề cạo giấy tại Sở Tài chính: “Lương càng cao càng như cái nút dây thắt chặt thêm, cột mình vào cái nghề làm thuê viết mướn. Tôi vào đời, cực chẳng đã mà phải làm cái nghề này, thôi thì miễn là đủ sống”. Do túng quẫn, thiếu tiền đóng thuế sưu cho chồng, chị Dậu cực chẳng đã phải bán cái Tý cho nhà Nghị Quế v.v…

Đôi khi vì lý do gì đó khiến mình khổ tâm, không ưng ý nhưng phải chịu đựng thì cũng là cực nhưng là cực lòng. “Cực lòng thiếp lắm chàng ơi/  Biết rằng lên ngược xuống xuôi đàng nào” là một thí dụ. “Từ điển Việt - Bồ - La” (1651) ghi “cực lão” và giải thích “sầu não”. Cực lòng nhằm chỉ về một trạng thái nội tâm, khó có thể cân, đong, đo, đếm cụ thể - khác với cực thân là nhằm chỉ nỗi vất vả tấm thân, nó lồ lộ ra bề ngoài, chẳng hạn Tham thực cực thân. Cố ăn, cố ních, cố đớp cho sướng cái miệng đến khi bội thực thì kêu ai?

Dẫu dùng từ cực thân nhưng tùy ngữ cảnh lại có cách hiểu khác, chẳng hạn một người bảo: “Tớ và X cực thân” là hai người cực kỳ thân thiết, thân tình như anh em bồ tèo… Hiểu theo nghĩa này, cực không phải chỉ sự khốn khổ, nghèo cực mà có nghĩa “Rất, chỗ tột” (“Đại Nam quấc âm tự vị” -1895), “Rất mực, đến thế là cùng: Cực rộng, cực đẹp (“Việt Nam tự điển” 1931), “Ở mức độ tột cùng, không thể hơn được nữa: đẹp cực, hát hay cực” (“Đại từ điển tiếng Việt”, 1999) v.v… Với thí dụ dẫn chứng vừa nêu, ta quan sát sát thấy vị trí của từ cực theo thời gian đã hoán đổi vị trí nhưng người nghe/ người đọc vẫn hiểu y chang: cực đẹp/ đẹp cực.

Sự hoán đổi này nói lên điều gì? Có thể nói, là nhằm đẩy tính chất của sự vật, sự việc nào đó lên mức độ cao hơn nữa. Nếu nói “Trời hôm nay cực nhiều mây” là đã nhiều mây, nhiều mây lắm lắm nhưng “Trời hôm nay nhiều mây cực” còn là sự khẳng định chắc nịch, không phải bàn cãi lôi thôi gì nữa. Mà “cực” này, lại là cách nói gọn của “cực kỳ”. Ông Huình Tịnh Paulus Của giải thích: “Tiếng nói đôi chỉ nghĩa là rất, thường là tiếng trợ từ, hay là giúp sức. Như nói “cực kỳ khôn ngoan, thì là khôn ngoan lắm; cực kỳ giàu sang, thì là giàu sang lắm”. Mà thôi, “mây cực” à, nói thế cũng chẳng sao, ai cũng hiểu nhưng một khi nói “nắng cực” thì sao? Thì ai biết làm sao, thôi kệ, năm mới năm me rồi, ai cũng ước mơ mọi việc hành thông, tốt đẹp, gió thuận mưa hòa, không còn hạn hán khiến bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương phải thốt lên: “Đang cơn nắng cực chửa mưa tè/ Rủ chị em ra tát nước khe”. Đại khái, “nắng cực” là đó.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?