Huyền thoại Trung đội Mai Quốc Ca

Tháng Tư, đứng bên bờ sông Thạch Hãn nhìn dòng nước lặng trôi, khó ai hình dung nơi đây từng là ranh giới của sự sống và cái chết. Năm 1972, dòng sông ấy chứng kiến một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam, khi đất trời bị xé nát bởi bom đạn, còn con người bừng lên như những ngọn lửa.

Khi ấy, Quảng Trị không còn là một địa danh bình thường mà bị gọi là “vùng đất không người”, “miền đất bị nguyền rủa” hay “thành phố tuẫn đạo” như những đô thị đã hiến mình cho lịch sử.

1.jpg -0
Cựu chiến binh Vũ Quang Thành, người chiến sĩ duy nhất của Trung đội Mai Quốc Ca còn sống sau trận đánh ngày 10/4/1972 (Ảnh: Lê Mạnh Quốc).

Trong 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, vùng đất chỉ khoảng 4km² hứng chịu hơn 328.000 tấn bom đạn, sức tàn phá tương đương nhiều lần vụ ném bom nguyên tử ở Hiroshima. Bầu trời đặc kín máy bay, B52 rải thảm, pháo hạm dội vào không ngớt, mặt đất bị cày xới đến tận cùng. Nhưng chính giữa địa ngục ấy, những huyền thoại đã ra đời, trong đó có Trung đội Mai Quốc Ca với trận đánh lừng danh bên bờ bắc sông Thạch Hãn.

Một biểu tượng bất tử

Đêm 9/4/1972, trong màn đêm đặc quánh mùi thuốc súng, một trung đội 20 chiến sĩ quân giải phóng mang tên Trung đội trưởng Mai Quốc Ca, thuộc Đại đội 11, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 9 (Quang Trung), Sư đoàn 304, lặng lẽ lên đường dưới sự chỉ huy của Đại đội phó Nguyễn Văn Thỏa.

Họ mang theo 100kg bộc phá, nhận nhiệm vụ đánh sập cầu Quảng Trị (nay là cầu Thạch Hãn), nhằm cắt đứt tuyến tiếp viện từ phía nam ra các căn cứ Ái Tử, Đông Hà, tạo điều kiện cho các lực lượng mai phục hai bờ sông Thạch Hãn tiêu diệt lực lượng mạnh của địch.

Họ hành quân trong im lặng, như những cái bóng, nhưng mỗi bước chân đều chất chứa quyết tâm sắt đá. Phần lớn họ còn rất trẻ: Nguyễn Văn Thỏa (Nghệ An) 30 tuổi; Mai Quốc Ca (Thanh Hóa) 22 tuổi; Lê Cao Sơn (Tuyên Quang) 22 tuổi…

Trên đường đi, trung đội nhiều lần chạm trán địch. Sau khi tiêu diệt một trung đội lính bảo an tại xã Triệu Thượng (nay là xã Triệu Phong), họ áp sát phía bắc cầu Thạch Hãn. Rạng sáng 10/4/1972, khi mũi tiến công vừa xuất kích, một quả mìn Claymore bất ngờ phát nổ, khiến mục tiêu bị lộ. Địch lập tức huy động ba tiểu đoàn tinh nhuệ cùng máy bay, xe tăng, pháo binh, tạo thành gọng kìm vây chặt.

Trong vòng vây ấy, một trận chiến không cân sức diễn ra. Với tinh thần “1 thắng 100”, 20 chiến sĩ kiên cường trụ bám, đánh bật nhiều đợt tấn công dồn dập. Họ chiến đấu đến cùng bằng súng, lựu đạn, lưỡi lê; hết đạn thì dùng báng súng, không còn gì thì lấy thân mình chặn địch. Người ngã xuống, người khác lập tức thay vào, không một ai lùi bước.

Trận chiến kéo dài từ rạng sáng đến quá trưa. Khi tiếng súng lắng xuống, 19 người đã hy sinh, người còn lại bị thương nặng rơi vào tay địch. Hai mươi con người đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tiêu diệt 125 tên địch thuộc nhiều binh chủng, trong đó có 2 cố vấn Mỹ, phá hủy nhiều xe cơ giới. Họ không chỉ để lại một chiến công, mà còn trở thành biểu tượng góp phần làm nên chiến thắng giải phóng Quảng Trị năm 1972.

Sau trận chiến, kẻ thù không cho dân đến gần. Họ xếp thi thể các chiến sĩ thành hàng, phơi dưới nắng, như một sự thị uy tàn nhẫn. Địch khép chặt vòng vây, không cho người dân đến gần. Ngay trong chiều ngày 10/4/1972, đã có hàng chục người dân đứng lên phản đối, lập tức lính biệt động xả súng liên hồi, cảnh cáo rồi điều thêm quân đến đàn áp và tuyên bố sẽ bắt giữ bất cứ ai nếu có biểu hiện giúp đỡ Việt cộng.

Cuộc thuyết phục kéo dài suốt một  ngày một đêm nhưng vẫn không mang lại kết quả. Đến sáng hôm sau, một số người là du kích xã Triệu Thượng như chị Phạm Thị San, Trần Thị Diệp đã kiên quyết: “Bằng mọi giá trong ngày hôm nay phải đưa được thi thể các chiến sĩ về chôn cất dù có đánh đổi tính mạng của mình. Bởi rất có thể hết ngày hôm nay, thi thể các anh sẽ bị chúng cho xe ủi lùa xuống hố chôn tập thể”.

2.jpg -1
Đài tưởng niệm liệt sĩ Trung đội Mai Quốc Ca - biểu tượng bất diệt của tinh thần chiến đấu quả cảm.

Bắt đầu từ mờ sáng ngày 11/4/1972, đông đảo bà con nhân dân đã tập trung ngay đầu cầu Thạch Hãn, hô vang khẩu hiệu đòi được chôn cất thi thể các anh và tiến thẳng vào nơi quân địch bỏ thi thể các chiến sĩ. Cuộc giằng co giữa nhân dân và lính ngụy diễn ra hơn 5 giờ đồng hồ. Quân địch nổ súng và xô đẩy bà con; chúng dùng báng súng đánh đập nhưng càng đánh đập, bà con nhân dân kéo tới mỗi lúc càng đông. Dòng người tiến về phía cầu, tiếng hô vang dậy. Họ bước qua nỗi sợ hãi, bước qua cả cái chết. Cuối cùng, đối phương phải nhượng bộ.

Sau sự giằng co đó, 19 thi thể được đưa về chôn cất ở mép sông ở bến Nhan Biều, phía Bắc sông Thạch Hãn. Đó không chỉ là một hành động nhân đạo. Đó là một chiến thắng khác, chiến thắng của lòng người.

Trái tim còn lại bên dòng Thạch Hãn

Năm 1973, Trung đội Mai Quốc Ca được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày đất nước thống nhất, các anh được an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ Thị trấn Ái Tử, huyện Triệu Phong (nay là xã Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị), nằm cạnh nhau dưới một dòng bia chung, trên mỗi phần mộ đều khắc dòng chữ: “Liệt sĩ Trung đội Mai Quốc Ca”. Nhưng có lẽ, nơi họ thuộc về sâu thẳm nhất vẫn là dòng sông Thạch Hãn, nơi họ đã chiến đấu, đã ngã xuống và hóa thành một phần máu thịt của đất nước.

Bên bờ sông ấy, một đài tưởng niệm được dựng lên với hình tượng một trái tim lớn, trong đó là 19 trái tim nhỏ soi bóng xuống dòng nước, như một biểu tượng bất diệt của tinh thần chiến đấu quả cảm. Dưới chân tượng đài là tấm bia hình trái tim khắc ghi tên tuổi, quê quán của 19 liệt sĩ. Đó không chỉ là một công trình điêu khắc, mà là biểu tượng của sự sống nảy mầm từ cái chết, của ký ức không thể phai mờ. Cầu Thạch Hãn đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch) công nhận là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt, thuộc cụm di tích 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị.

Người lính duy nhất còn sống của Trung đội anh hùng là Vũ Quang Thành sinh năm 1953, quê xã Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa nhập ngũ khi vừa tròn 18 tuổi. Ông đi qua chiến tranh, qua lao tù, qua những tháng ngày tưởng như không thể trở về. Ngày 10/3/1973, sau Hiệp định Paris, ông cùng các chiến sĩ bị giam giữ được trao trả tự do bên dòng Thạch Hãn. Trở về quê hương, lập gia đình, sống một cuộc đời bình dị, nhưng ký ức thì không bao giờ rời bỏ.

Mỗi lần trở lại Thạch Hãn, ông lại thắp hương cho đồng đội, lặng lẽ đối diện với những người đã khuất. Ông tự nhủ: “Mình là người may mắn, nên phải sống thật ý nghĩa để xứng đáng với những người đã ngã xuống vì độc lập, tự do của dân tộc”. Không cần nghi lễ, không cần ai chứng kiến, chỉ một người sống đứng trước những người đã khuất. Và trong những khoảnh khắc ấy, dường như thời gian ngưng lại. Những gương mặt năm xưa hiện về, những bước chân, tiếng gọi, những lời chưa kịp nói… vẫn còn ngân mãi bên dòng sông.

Chiến tranh đã lùi xa. Quảng Trị hôm nay đã xanh trở lại. Những con đường, những mái nhà, những cánh đồng… tất cả đều đang hồi sinh nhưng dưới lớp đất ấy, dưới dòng sông ấy, vẫn còn những câu chuyện, câu chuyện về hai mươi con người đã chọn ở lại, câu chuyện về những người dân đã dám đứng lên để bảo vệ đất nước và câu chuyện về một vùng đất từ “chết” mà hóa thành bất tử. Dòng Thạch Hãn vẫn chảy, những trái tim ấy vẫn còn đó. Và mỗi khi tháng Tư trở về, ta lại nghe trong gió, trong nước, trong lòng mình nhịp đập của họ, nhịp đập của ký ức, của tri ân, của một thời không thể quên.

Nguyễn Văn Nhật Thành

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.