Hai nhà thơ đặc sắc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ

Để tránh hiểu lầm, xin được nói ngay rằng, trong nền thơ Việt Nam hiện đại, chúng ta có không ít nhà thơ đặc sắc - đặc sắc ở những mức độ nào đó.

Theo kiểu phân chia thành thế hệ - một cách tương đối - như thường thấy, thì các nhà thơ đặc sắc ấy trưởng thành - cùng với các nhà thơ khác - trong các thế hệ: trước Cách mạng Tháng Tám, trong kháng chiến chống Pháp, trong kháng chiến chống Mỹ, và sau ngày đất nước thống nhất cho đến nay. Tuy vậy, mỗi thế hệ có thể có những nhà thơ đặc sắc nhất, nổi hẳn lên, mà mỗi khi nói đến thơ của thế hệ ấy, người ta phải nói đến họ, không thể quên họ.

Với thời kỳ kháng chiếng chống Mỹ, những nhà thơ nào có thể được coi là đặc sắc nhất? Theo tôi, có hai người: Trần Đăng Khoa và Phạm Tiến Duật. Không hẹn mà nên, như một cách "phi đối xứng", Trần Đăng Khoa và Phạm Tiến Duật, một là thiếu nhi - một là người lớn, một là người dân - một là người lính, một ở hậu phương - một ở chiến trường... Với những phong cách thơ độc đáo, họ phản ánh hiện thực của thời kỳ bi tráng này của đất nước, của dân tộc, từ những đặc điểm khác nhau, ở những cung bậc khác nhau.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa.
Nhà thơ Trần Đăng Khoa.

Từ năm 1966 đến năm 1974, mà đặc biệt là từ 1966 đến 1970 - trong khoảng năm năm - là lúc Trần Đăng Khoa từ tám tuổi đến 12 tuổi, cậu bé này đã làm rúng động đời sống thơ ca Việt Nam - bấy giờ là miền Bắc, vì đất nước chưa thống nhất.Tôi sẽ không dẫn ra ở đây những bài thơ, những câu thơ của Trần Đăng Khoa hồi ấy mà ai cũng đã biết. 

Tôi chỉ muốn lưu ý thêm: có những người đọc rất bình thường, ở xa có khi đến hàng trăm cây số, đã tìm đến cái làng Điền Trì hẻo lánh ở tỉnh Hải Dương thăm (hay xem mặt) Trần Đăng Khoa. Đã có những nhà thơ nổi tiếng về nhà Trần Đăng Khoa. Lại có cả người viết những câu thơ cảm động viếng Trần Đăng Khoa, vì nghe tin ở đâu rằng Trần Đăng Khoa đã chết.

Rồi vô tuyến truyền hình Pháp đến Việt Nam làm phim về Trần Đăng Khoa - ngay trong lúc Việt Nam đang có chiến tranh, và người hướng dẫn những người làm phim là nhà thơ Xuân Diệu. Thơ của Trần Đăng Khoa viết hồi ấy được in nhiều lần trong nước đã đành, mà còn được dịch ở nhiều nước, có lẽ vào loại nhất so với các nhà thơ, nhà văn khác của Việt Nam - không chỉ bấy giờ đến những năm sau, mà còn đến tận ngày nay.

Người ta gọi Trần Đăng Khoa là thần đồng. Nếu hiểu thần đồng như các từ điển thường giải nghĩa: đứa trẻ thông minh đặc biệt, thì Trần Đăng Khoa đúng là thần đồng. Tuy nhiên, tưởng cần nhấn mạnh hơn một mức nữa. Ba chục năm trước, tôi có lần viết: Trần Đăng Khoa là một hiện tượng thơ rất hiếm thấy, có thể phải tính bằng nhiều chục năm, thậm chí bằng những thế kỷ. Cho đến nay, tôi vẫn nghĩ đó không phải là một cách nói đại ngôn. Với thành tựu thơ trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, năm 2001, Trần Đăng Khoa đã được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật.

Phạm Tiến Duật (1941 - 2007) học xong Trường Đại học Sư phạm thì đi bộ đội, và gắn bó với đường Trường Sơn tám năm liền trong 14 năm ở quân ngũ. Tám năm ấy, đường mòn Hồ Chí Minh đã làm nên nhà thơ Phạm Tiến Duật độc đáo, từ một người lính, và trước hết là của những người lính.

Chùm thơ nổi tiếng của Phạm Tiến Duật được giải nhất cuộc thi thơ năm 1969 - 1970 của Báo Văn nghệ tập trung những tinh hoa của thơ Phạm Tiến Duật trước đó, và báo hiệu cho một tài năng thơ sẽ còn phát triển trong những năm về sau. Đêm trao giải thưởng cuộc thi thơ ấy ở Hà Nội, mà tôi có dự, không thấy Phạm Tiến Duật; về sau mới biết anh đang trong một nẻo rừng Trường Sơn chiến trận, không ra dự được. Điều đó cũng có thể coi như một sự lý thú và đầy ý nghĩa. Nghệ thuật thơ Phạm Tiến Duật bấy giờ tạo được một tiếng nói rất riêng, rất mới, được cả bộ đội và nhân dân ưa thích.

Nhà thơ Phạm Tiến Duật trước khi lâm bệnh nặng và mất.
Nhà thơ Phạm Tiến Duật trước khi lâm bệnh nặng và mất.

Tôi cũng sẽ không nhắc lại ở đây nhiều bài thơ, câu thơ của Phạm Tiến Duật mà ai cũng đã biết. Tôi chỉ muốn dẫn ra những câu thơ này, cách nói này, dường như chưa được chú ý, chưa được đánh giá đúng, có trong bài Công việc hôm nay Phạm Tiến Duật viết vào khoảng những năm 1967 - 1968:

Cục Tác chiến báo sang tin cuối cùng
Về số máy bay rơi trong ngày và tàu chiến cháy,
Nha khí tượng báo tin cơn bão tan,
Bộ Nông nghiệp báo tình hình vụ cấy...
Trong những tờ trình Thủ tướng đọc trong đêm
Còn có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiên.
Bộ thông sử hoàn thành
Trang cuối cùng viết trong hầm trú ẩn
Chồng bản thảo rời khu sơ tán
Chở trên xe xích lô
Lọc cọc xe qua trận đồ cao xạ...

Những công việc cụ thể ở tầm vĩ mô của những câu thơ như vậy, chưa bao giờ thấy trong thơ được viết từ chiến trường, kể cả ở những nhà thơ kỳ cựu và những nhà thơ trẻ tuổi - mà Phạm Tiến Duật bấy giờ là một nhà thơ trẻ tuổi.

Cho đến bây giờ, đọc những bài thơ viết trong chiến tranh của ta, sẽ thấy không ai tạo dựng được một chân dung nhà thơ đậm nét như Phạm Tiến Duật.

Phạm Tiến Duật tạo ấn tượng mạnh đến mức, đã có những chiến binh thời kháng chiến chống Mỹ đề nghị dựng tượng Phạm Tiến Duật trên đường Trường Sơn.

Bằng thành tựu thơ ca chủ yếu ở thời kỳ kháng chiến chống Mỹ này, Phạm Tiến Duật đã hai lần được tặng giải thưởng lớn về văn học nghệ thuật: năm 2001 Giải thưởng Nhà nước, năm 2011 Giải thưởng Hồ Chí Minh.

Với những gì đã nêu trên, tôi xin nói một lần nữa: Trần Đăng Khoa và Phạm Tiến Duật là hai nhà thơ đặc sắc nhất trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

(Tất nhiên, tôi không quên, có những nhà thơ làm thơ cùng thời với hai nhà thơ trên đã từng là những nhà thơ đặc sắc của các thời kỳ trước; có người vào những ngày kháng chiến chống Mỹ chưa thực sự nổi tiếng, đến sau thời kỳ ấy mới có những đóng góp quan trọng và là những nhà thơ đặc sắc của thời kỳ mới. Nhưng đó là chuyện không thuộc phạm vi bài này).

Hồng Diệu

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.