Gió truyền thống & gió Tây phương

Từ vài năm trở lại đây, mỗi khi nghe mệnh đề “Hòa nhập nhưng không hòa tan”, tôi luôn tự hỏi chính bản thân mình: Này tôi ơi, tôi thật sự có gì để “không hòa tan”? Tôi không dám nói đến câu chuyện xã hội, tôi chỉ đang nói đến câu chuyện của cá nhân tôi và bình tĩnh nhìn lại, tôi thấy có một nghịch lý phát triển rất lớn của mình.

Xem nào: Lớn lên là tôi đã bắt đầu mặc đồ Tây như bất cứ đứa trẻ nào khác (trang phục phương Tây tràn khắp thế giới mà), tôi nghe nhạc Tây, nghiện phim Tây, nghĩ và viết theo lối phương Tây. Ở nhà trường, trong địa hạt văn chương, suốt 3 năm phổ thông, tác giả mà tôi yêu nhất và thấy gần mình nhất lại là “ông Tây” Xuân Diệu. Tôi không thể hấp thụ nổi những bài thơ cổ nói riêng và văn học Trung Đại nói chung, vì thật sự, ở tuổi 16-17, tôi thấy nó không thuộc thế giới của mình.

Và thành thực nhớ lại mà xem, đó không chỉ là câu chuyện của riêng tôi, đó có thể còn là câu chuyện của chính bạn, khi bạn ở vào lứa tuổi của tôi. Như vậy, ở cái tuổi “vào đời” ấy, cảm giác như tôi gần phương Tây hơn phương Đông, dù là một thực thể phương Đông chính hiệu.

Mãi sau này, khi đi làm, va chạm rồi tôi mới thấy sự thiếu hụt phương Đông khủng khiếp trong mình. Và mãi đến lúc này, bên cạnh những Socrate, Platon, Aristotle - những tác giả mà triết luận của họ tôi có thể “nằm lòng” thì tôi mới bắt đầu có ý thức nghiên cứu Khổng - Mạnh - Lão - Trang... Cũng phải đến lúc này, tôi mới có ý thức khi vào một ngôi chùa, ngôi đền, ngôi đình thì nhất định phải hiểu được các triết lý truyền thống của những không gian này, nhất định phải đọc được các câu đối để hiểu được ngày xưa ông cha mình đã viết gì, đã nghĩ gì, đã mơ ước gì, đã gửi gắm điều gì cho hậu thế. Khổ nỗi, tôi không biết cả chữ Hán lẫn chữ Nôm nên luôn phải “nịnh” một tay cự phách trong lĩnh vực này.

Một trong những trống vắng lớn nhất của những thế hệ sinh sau năm 1945 phải chăng chính là việc không thể “đọc” được ông cha, từ đó gần như không thể “cảm” được và “hiểu” được ông cha? Bởi vì chúng ta dùng một thứ chữ viết khác, ít nhiều gắn liền với một kiểu tư duy khác so với thời ông cha. Sự thay đổi từ hệ chữ Hán tượng hình sang hệ chữ quốc ngữ hiện đại đã được các nhà nghiên cứu mổ xẻ ở nhiều góc độ, tôi tuyệt đối không dám lạm bàn. Ở đây chỉ dám nói đến một khía cạnh nhỏ, có thật, không thể chối cãi của sự chuyển đổi này: Đó là nó khiến chúng ta “xa” quá khứ hơn, “xa” ông cha mình hơn.

Nếu cứ “buông” mình trong cái “xa” ấy và nếu không có ý thức tìm lại ông cha, trở về với ông cha, cố gắng “đọc” - “cảm” - và ít nhiều “hiểu” ông cha thì thực sự những cái mà chúng ta có thể dùng để “không hòa tan” là vô cùng bé nhỏ. Và đấy là một nghịch lý trong tôi: Khi mới lớn tôi thấy quanh mình là một khí quyển phương “Tây”. Tôi gần phương Tây quá. Đến mãi sau này, khi phải quyết liệt xây dựng một ý thức “tìm về” và sử dụng cả những kỹ năng hữu hiệu để có thể “tìm về” thì tôi mới thấy trong mình còn có những cái để ít nhiều “không hòa tan” trong dòng thời đại đa phương, đa diện hôm nay.

Ở chỗ này đã và sẽ nảy sinh một vấn đề gây tranh cãi: Vậy thì khi cố gắng “tìm về” ông cha, chúng ta sẽ tìm về những giá trị tư tưởng chính yếu nào? Hàng ngàn năm phong kiến, nhiều xã hội Đông Á, trong đó có Việt Nam đề cao Nho giáo, tôn thờ Khổng Tử. Các triều đình phong kiến Đông Á thường sử dụng một công thức kinh điển để lãnh đạo và điều hành xã hội: “Ngoại Nho nội pháp”. Nhưng, điều này có đồng nghĩa với việc truyền thống của tất cả các nước Đông Á gắn chặt với Nho giáo kinh viện hay không?

Thực tế là theo nhiều nhà nghiên cứu Nho giáo kinh viện khởi sinh từ Trung Quốc và khi đi vào mỗi quốc gia Đông Á thì lại kết họp với những nét văn hóa bản địa vốn có của mỗi quốc gia, để tạo ra những ảnh hưởng khác nhau. Trong một lần đối thoại với ANTG GT - CT, giáo sư, tiến sĩ sử học Vũ Minh Giang từng nói đến điều này: trong các giá trị Khổng giáo thì ở Triều Tiên - Hàn Quốc người ta đề cao hàng đầu là chữ “dũng”, hiểu theo nghĩa dũng cảm, dũng khí.

Tại sao vậy? Tại người Hàn Quốc có một đặc điểm tính cách truyền thống là rất nóng tính nên khi chọn yếu tố “dũng” trong đạo Khổng làm đầu thì họ cũng đồng thời phát huy được tính trội, tính điển hình của mình. Và, nếu nhìn sang góc độ kinh tế chúng ta thấy chính nét tính cách này đã giúp họ tạo nên một đặc điểm kinh doanh nổi bật: đầu tư mạo hiểm. Trong rất nhiều trường hợp, chính sự táo bạo đã giúp họ thành công, tạo nên thương hiệu kinh doanh của người Hàn Quốc.

Điều này khác hẳn với người Nhật. Vẫn là Khổng giáo nhưng khi Khổng giáo vào Nhật thì yếu tố người Nhật đề cao hàng đầu lại là chữ “tín” (GS.TS Vũ Minh Giang: Không có quyền lực nào tuyệt đối, ANTG GT - CT, 10-11-2015). Với cách nhìn này, phải chăng Khổng Nho vào Việt Nam lại nhấn mạnh đến yếu tố lễ - nghĩa? Vậy thì cái tư tưởng Khổng - Nho với những yếu tố lễ nghĩa phù hợp với văn hóa bản địa Việt Nam đã được biểu hiện cụ thể như thế nào từ quá khứ đến hiện tại?

Nếu thực sự phát huy được yếu tố truyền thống này thì liệu chúng ta có phải liên tục rung những hồi chuông lớn về sự suy thoái đạo đức trong lòng xã hội hay không? Nếu phát huy được yếu tố truyền thống này thì hàng loạt vụ án đau lòng - hàng loạt những ứng xử đau lòng - hàng loạt biểu hiện tham ô, tham nhũng gây phẫn nộ dư luận có diễn ra hay không?

Trong một lần trao đổi với nhà nghiên cứu chính trị học Nguyễn Sĩ Dũng, tôi rất thấm thía khi nghe ông nhận định: “Sở dĩ đội ngũ hành chính công vụ ở Hàn Quốc, Nhật Bản làm việc tận tụy, liêm chính vì ở đó họ vẫn phát huy được những nét tích cực trong tinh thần Nho giáo”. Ở đây, xin nhấn mạnh, tôi chỉ nhắc đến Nho giáo như một cây cầu để tìm về những giá trị truyền thống của dân tộc, chứ không vội vàng đồng nhất cây cầu ấy với truyền thống và coi nó là một cái chuẩn duy nhất của truyền thống.

Định vị truyền thống là một câu chuyện tối quan trọng. Khơi gợi và lan tỏa những giá trị truyền thống vào đời sống hiện đại càng quan trọng. Biến những giá trị truyền thống thành tập quán văn hóa trong đời sống hiện đại còn quan trọng hơn nữa. Với chúng ta, quá trình quan trọng này đồng thời là một quá trình khó khăn, đòi hỏi một nhãn quan, một quyết tâm, một nghị lực lớn lao, bởi đã có những thời kỳ chúng ta bị “đứt đoạn” với truyền thống, thậm chí đã khước từ những giá trị văn hóa mà chúng ta tưởng là tiêu cực của truyền thống. Nỗ lực của chúng ta trong nhiều năm trở lại đây là dễ thấy nhưng có lẽ chúng ta còn phải nỗ lực nhiều hơn nữa. Và, nỗ lực ấy không chỉ là câu chuyện riêng của những nhà quản lý, điều hành xã hội mà có lẽ còn phải là câu chuyện cụ thể, trực tiếp của mỗi bậc phụ huynh, mỗi gia đình.

Trong rất nhiều câu chuyện với những bạn bè trí thức của mình, tôi thấy rõ một xu hướng: cho con cái học tiếng Anh từ rất sớm, sau đó sẽ học trường quốc tế và sau đó sẽ du học. Tôi tự hỏi: những đứa trẻ lớn lên với một lộ trình “Tây hóa” từ trứng nước sau này có gì để “không hòa tan”? Một người bạn tôi phản biện: Thế giới phẳng rồi, thời đại của công dân toàn cầu rồi, tất cả là một, làm gì còn chuyện hòa nhập với hòa tan nữa! Tôi thì nghĩ: phẳng không có nghĩa cào bằng, công dân toàn cầu không có nghĩa là những công dân có thể thoải mái nói chuyện với nhau bằng một thứ ngôn ngữ toàn cầu và trở thành đứa con rơi của ngôn ngữ dân tộc. Nếu chúng ta quan niệm về “phẳng” và “công dân toàn cầu” theo cách đó, có thể sự mất mát của chúng ta sẽ là vô cùng khủng khiếp.

Trở lại với câu chuyện nghịch lý như đã trình bày về cá nhân mình. Bây giờ nhìn lại, tôi ao ước: Giá đổi ngược quá trình này được nhỉ? Tức là tôi sẽ thấm thía những giá trị truyền thống trước và đến khi nó lặn vào mình, trở thành một phần nội lực của mình thì mới mở cánh cửa trí óc và tâm hồn để tiếp nhận làn gió phương Tây? Bởi càng ngày tôi càng cảm giác mọi sự tiếp nhận thiếu nội lực đều dễ dẫn đến những dị dạng về tư duy.

Nhưng, với trường hợp của tôi, đấy chỉ là một ao ước không bao giờ thành sự thực. Tôi chỉ có thể cố gắng “sửa sai” bằng nhiều cách tốt nhất có thể mà thôi. Điều mà tôi mơ ước tiếp theo đó là chúng ta sẽ làm một cách nào đó để những đứa con của chúng ta lớn lên trong một hành trình thuận lý. Những đứa con của chúng ta thực sự sẽ lớn lên với những giá trị truyền thống, căn cốt của dân tộc, thực sự có được một nội lực đủ mạnh bên trong trước khi mở cánh cửa tư duy đón nhận những giá trị tích cực của triết học và văn hóa phương Tây?

Liệu chúng ta có thể làm được như thế chăng?

Vậy thì chúng ta sẽ làm bằng cách nào?

Làm được tới đâu?

Và bắt đầu từ đâu?

Tôi vẫn nghĩ: nó bắt đầu từ hành động thiết thực của những ông bố bà mẹ trong mỗi gia đình.

Phan Đăng

Các tin khác

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?

Rừng hoa xuân tuyết bay

Rừng hoa xuân tuyết bay

Nếu tính chặng đường đi tiếp của chúng tôi từ phường Tuyên Quang tới hồ thủy điện Na Hang chừng 100 cây số. Ấy là chưa nói, đoàn còn lên vùng núi cao Hồng Thái cũng phải tròm trèm 50 cây số nữa. Nghe vậy mọi người lắc đầu ngao ngán. Nhưng ai đó chợt kể, ở một bản Dao trên núi có tục gái mua trai về làm chồng. Rồi họ còn tổ chức trò chơi dù bay trên mây nữa chứ. Mọi người phấn chấn hẳn. Lập tức chuyến xe lại rùng rùng hú còi lên đường.