Em đi rồi trở lại

Mới đây có dịp về Nam Định tôi đến thắp hương trên mộ một người bạn cũ mất cách nay đã hai mươi năm, nhà thơ Phương Thủy. Có thể bây giờ bạn đọc rộng rãi đã không còn nhớ nhiều đến cái tên Phương Thủy nhưng các nhà văn, nhà thơ đã khẳng định được tên tuổi như Phan Thị Thanh Nhàn, Hoàng Quốc Hải… cùng rất nhiều anh chị em trong giới báo chí, văn chương ở miền Bắc và sau năm 1975 ở miền Nam vẫn còn rất nhớ về chị.

Những năm đầu thập kỷ 60 của thế kỷ trước, lớp báo chí đầu tiên sau ngày giải phóng Thủ đô do Ban Tuyên huấn Trung ương tổ chức, chị Phương Thủy - tên thật là Trần Thị Tuyết - đã nổi lên là một học viên hết sức năng động, đa tài. Không chỉ có năng khiếu thơ văn mà chị hát rất hay và còn là phát thanh viên của trường.

Ngày cùng lớp, chị cùng với chị Dương Thị Xuân Quý và Phan Thị Thanh Nhàn là bộ ba gắn bó nổi tiếng cho đến khi Dương Thị Xuân Quý tình nguyện đi B. Nhóm “Tam Tam” ngày ấy hàng ngày chỉ báo có 2 suất ăn, suất còn lại lấy tiền mua sách. Nếu Phương Thủy không mất sớm, hẳn tên tuổi của chị hẳn sẽ nhiều người nhắc tới.

z7135358176550_cd91469e842a2a230d181175c7de3eaf.jpg -1
Nhà thơ Phương Thủy.

Năng khiếu báo chí, văn chương của Phương Thủy - Trần Thị Tuyết bộc lộ ngay khi học ở trường. Khóa học kết thúc, trong khi các học sinh về các báo địa phương thì Phương Thủy, dù từ thành đoàn Nam Định về học nhưng đã được lãnh đạo Báo Ảnh Việt Nam thuộc cơ quan Thông tấn xã cử người đến tận trường xin đích danh. Chỉ qua một thời gian làm việc, Phương Thủy đã chứng tỏ được mình bằng năng lực, hơn nữa, bằng tinh thần trách nhiệm và nhiệt tình.

Tôi quen biết chị từ công việc. Khoảng năm 1962 chị cùng một đoàn phóng viên Báo Ảnh được cử lên các tỉnh Việt Bắc để làm phóng sự về đời sống các dân tộc vùng cao. Cơ quan Sở Văn hóa Việt Bắc cử tôi đi cùng để hướng dẫn, giúp đỡ đoàn. Thấy chị là nữ mà xông xáo hơn cả nam giới, không ngại leo núi, lội suối, băng rừng, không ngần ngại bất cứ công việc nào, khiến tôi nể phục.

   Suốt những năm 60 và giữa năm 70 của thế kỷ trước, chị Phương Thủy công tác ở Báo Ảnh Việt Nam rồi sang Báo Phụ nữ Việt Nam. Tháng 4 năm 1975 chị có quyết định vào Nam chi viện cho Báo Phụ nữ Giải phóng ngày báo mới thành lập. Khi có tuổi, sức yếu, chị chuyển sang làm biên tập cho Nhà xuất bản Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh cho đến khi nghỉ hưu.

Suốt hơn 40 năm đeo đuổi nghề báo, làm biên tập sách, dù đã gặt hái được những thành công qua những bài điều tra, phóng sự, cùng những thẩm định sắc sảo các tác phẩm nhưng sâu thẳm trong chị vẫn là văn chương.

Bút danh Phương Thủy xuất hiện ngày một nhiều trên các báo trong nước. Một loạt truyện ngắn, bút ký, và nhất là các bài thơ của chị đã được các nhà xuất bản ở Trung ương chọn in trong các tập: “Mùa hoa xuyên khung”, “Hoa đầu mùa", “Chim sơn ca”, “Ngày về"… Chị cũng có thơ được chọn in trong tuyển tập “Hai nghìn năm thơ tứ tuyệt Việt Nam”: “Dã tràng bỏ biển đi đâu/ Để cho con sóng bạc đầu ngẩn ngơ/ Một đời thương, một đời cho/ Biển xanh, xanh đến ơ hờ biển ơi”… (Dã tràng).

Chỉ trong mấy năm, Phương Thủy đã cho xuất bản 2 tập thơ, một tập bút ký của riêng mình. Tên tuổi Phương Thủy không chỉ xuất hiện tại thành phố Hồ Chí Minh, ở Nam Định quê chị mà rộng ra cả nước. Nhà thơ già đồng tộc, đồng hương Trần Lê Văn đã có bài thơ cảm đề thật sâu sắc sau khi đọc tập ký “Một cõi đi về” của chị: “Hôm nay giở trang sách mỏng/ Đọc như tiểu thuyết ngàn chương/ “Một cõi đi về" bình dị/ Mà sao thăm thẳm yêu thương/ Những đoạn đường đời khúc khuỷu/ Vui buồn hội ngộ chia li/ Nguyễn Du bàn về tài mệnh/ Xưa nay vẫn thế khác gì”.

Đúng vậy, “Một cõi đi về” không chỉ là một tác phẩm văn chương mà là thăng trầm, éo le, đa đoan của Phương Thủy. Cuộc đời chị không mấy suôn sẻ. Trong đời riêng chị đã lập gia đình 3 lần. Lần thứ nhất lấy chồng khi cả anh và chị còn quá trẻ. Lần thứ hai, anh cũng là một nhà báo có tiếng nhưng giữa hai người lại có quá nhiều khác biệt.

Đã tưởng chị không còn sức để đi bước nữa thì như định mệnh, chị gặp nhạc sĩ Nguyễn Lang, ngày đó anh công tác ở Trường Âm nhạc Việt Nam. Sau đó anh theo chị vào miền Nam giảng dạy ở Nhạc viện. Anh là người miền Nam tập kết, một thanh niên trí thức, tính tình cương nghị và ít nói. Ngoài nghiên cứu, giảng dạy anh còn viết ca khúc, nhạc không lời cho các đoàn ca nhạc.

Có một thời trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam luôn phát đi bài hát “Trên những dòng sông quê hương”, một ca khúc nổi tiếng của Nguyễn Lang in dấu ấn của anh trên dòng chảy âm nhạc Việt Nam. Trong nhật kí của mình Phương Thủy viết: “Tôi thật sự yêu tất cả những thứ đó ở anh”. Một mối tình đẹp mà trong mơ chị cũng không dám nghĩ.

Ngôi nhà riêng của anh chị trên lầu 4 khu chung cư văn nghệ sĩ thành phố Hồ Chí Minh trên đường Phan Kế Bính. Mỗi khi có dịp vào Nam công tác tôi thường ghé thăm anh chị. Trong gia đình nghệ sĩ này có nếp sinh hoạt thật thú vị. Cứ sau bữa cơm chiều, thường là anh đến ngồi trước cây đàn piano đặt ngay giữa phòng khách dạo đàn. Rồi sau đó chị đến bên anh và cất tiếng hát.

Chị yêu các ca khúc của Trịnh Công Sơn: “Một cõi đi về”, “Nhìn những mùa thu đi”, “Cỏ xót xa đưa”, “Tuổi đá buồn”… Khi thể hiện những bài hát với ca từ ưu tư, khắc khoải ấy như cái cớ để chị phô diễn hết giọng ca vẫn còn thanh đẹp cùng những nỗi niềm riêng tư của mình. Tôi và một số bạn bè từ Hà Nội vào có thể ngồi cả buổi tối để thưởng thức không gian âm nhạc vừa ấm cúng vừa sang trọng và để ngắm nhìn cái hạnh phúc tuyệt vời ấy. Và rất mừng cho chị.

Nguyễn Lang hiểu vợ, cảm thông và đầy vị tha. Anh còn viết riêng cho vợ một bài hát lấy tên chị làm tứ cho bài “Tuyết” của anh: “Anh chưa thấy Tuyết trên cánh đồng/ Cũng chưa xem Tuyết lấp lánh trên cành thông/ Mà trong anh đã xôn xao một trời Tuyết/ Tuyết đâu lạnh băng mà ấm áp một cõi lòng”.

Nhưng ông trời lại thêm một lần thử thách chị. Mối tình của hai người đang thời kỳ mặn nồng nhất thì anh bị bạo bệnh. Cái chết bất ngờ của anh làm chị gục ngã. Chỗ dựa cuối cùng trong đời chị không còn. Chị ốm mấy tháng trời sút đi cả chục cân. Chị đã không chịu nổi mỗi khi từ cơ quan về, căn phòng trở nên quá rộng. Cây đàn dương cầm trở nên lạnh lẽo vì thiếu bàn tay anh. Những cuốn sách và đĩa nhạc đầy bụi phủ. Đã hết rồi, tất cả chỉ còn là kỷ niệm.

z7135358088074_dd64b229433279a64f0645626266eabc.jpg -0
Một số tác phẩm của nhà thơ Phương Thủy.

Không chịu nổi nỗi cô đơn nơi thành phố ồn ào ghi dấu nhiều kỉ niệm mà giờ đã trở nên xa lạ, nên sau giỗ đầu anh, chị quyết định ra Bắc về Nam Định quê nhà. Ngày từ Nam Định lên Hà Nội học, chị đi một mình, ngày từ Sài Gòn trở lại thành Nam cũng chỉ một mình.

Khi sống lại nơi quê nhà, chị dần bình tâm trở lại. Chị đã viết về những gì đáng nhớ trong cuộc đời mình rồi tập hợp in trong cuốn “Một cõi đi về”. Tập sách gồm 4 chương thì chương quan trọng nhất chị viết về cái ngày nghe tin anh bị nhiễm ung thư vòm họng rồi qua đời. Đọc nó ta có thể thấy hết những sâu nặng anh chị dành cho nhau, cho tình yêu tuy muộn nhưng là cứu cánh cuộc đời chị.

Từ khi về Nam Định chị lao vào công việc để nguôi ngoai. Chị tham gia nhiều công việc ở Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định, ở Hội Văn nghệ Dân gian Việt Nam, rồi Hội Khuyến học Việt Nam. Chị đọc nhiều và viết nhiều. Chị tìm niềm vui trong công việc.

Tập ký “Một cõi đi về” của chị được giải thưởng văn học Nguyễn Khuyến sau khi xuất bản được ít lâu. Rồi tập thơ thứ hai của chị, tập “Tự khúc” ra đời. Đây là những tâm sự cuộc đời chị: “Em đi rồi trở lại/ Buồn mấy cũng là không/ Ta hôn nhau lần nữa/ Từ mai là chờ mong” (Chờ mong); “Mưa đầy trời ướt đẫm mặt cỏ/ khô cho ta khoảng đứng mà thôi/ Khoảng ấm nồng, run rẩy, nhỏ nhoi/ Ta muốn níu và tận vỡ” (Khoảng buồn); “Phù du trong cõi bể dâu/ Trắng răng đến thuở bạc đầu người ơi/ Phù du đến lúc nằm nôi/ Phù du đến cả phút rời nhân gian” (Phù du)…

Nhà thơ Phương Thủy từng nói: “Không ai có thể sống mãi với đau buồn. Người ta phải lấy lửa từ quá khứ chứ không phải tro tàn. Mỗi bài thơ của chị là một kiếm tìm và sẻ chia. Muốn tìm ở đó một cái gì đã mất, một cái gì đáng luyến tiếc. Đọc thơ Phương Thủy, đọc kĩ và hiểu nó có thể làm ta thắt lòng. Có được điều đó chắc chắn không ai cho, không học được, không mua bán được. Nó chỉ nẩy nở trong cuộc đời của chính người viết mà thôi”.

Trong lời tựa cho một tập thơ của Phương Thủy, nhà thơ Phạm Đức đã nhận xét đầy tri âm tri kỷ về người bạn thơ của mình như vậy.

Huy Thắng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.