Để bước vào ngôi đền lòng dân

Giống như bức hoành phi trong đền thờ Nguyễn Công Trứ: “Làm ruộng dưỡng đức”, chỉ có bức tượng đài tạc trong lòng dân mới trường tồn cùng năm tháng. Các ông vua đến rồi đi, vương triều thịnh rồi suy, tướng quân thành rồi bại, tể tướng thăng rồi giáng, chỉ có nhân dân là còn mãi.

Khi các cư dân dọc theo vùng duyên hải đông nam châu thổ sông Hồng xây dựng đền thờ, họ đã không hướng đến những nhân vật quyền uy quân sự từng cai trị Bắc thành như Nguyễn Văn Thành (1802-1810), Lê Chất (1769-1826), những người mà quyền lực quân sự khét tiếng đã định hình nên không gian chính trị của vùng như một phần của nước Việt Nam hiện đại sau năm 1802.

Cuộc chiến đẫm máu thống nhất nước Việt Nam đã qua đi ba thập kỷ. Niềm tin và sự sùng kính của dân chúng đã không còn đặt trên yên ngựa hay thanh gươm mà dành cho những người nỗ lực không mệt mỏi cho cuộc sống bình yên, lẽ công bằng và ấm no dành cho dân chúng. 

Họ tin tưởng những vị quan tốt như Nguyễn Văn Hiếu, đưa vào đền thờ những người như Nguyễn Công Trứ vì chính các nỗ lực không mệt mỏi chăm lo cho cuộc sống của dân. Trong khi triều đình vinh danh ông với dẹp yên Phan Bá Vành, bình định Nông Văn Vân, dân đưa ông vào đền thờ với tư cách là một viên quan doanh điền, làm việc với bản đồ, với đồng chua nước mặn, với dân lưu tán, với trâu cày và với đê quai.

Dân biết rõ họ tin ai, thờ ai và vinh danh giá trị nào.

Hoành phi tại nhà thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Ninh Bình: "Phục diễn thực đức" (Làm ruộng dưỡng đức).
Hoành phi tại nhà thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Ninh Bình: "Phục diễn thực đức" (Làm ruộng dưỡng đức).

Lòng dân, Nguyễn Công Trứ, Minh Mệnh, và thử nghiệm chính sách

Đó là nước Việt Nam của năm 1820. Vị hoàng đế ở Huế, Minh Mệnh đang tìm cách xây dựng một nhà nước tập trung mạnh để kiểm soát vùng lãnh thổ rộng lớn từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Không chỉ đối mặt với phân tán chính trị và các viên tướng lĩnh nhiều quyền uy, thách thức lớn nhất của Gia Long, Minh Mệnh là khôi phục và xác lập niềm tin của dân chúng đối với vương triều.

Nếu có một khảo sát về chỉ số niềm tin của dân vào các nhà nước từ 1400 đến 1850 thì con số này chắc chắn đã “chạm đáy” vào các “phiên giao dịch” cuối thế kỷ XVIII. Hệ quả của nó là sự sụp đổ của hai nhà nước: chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, và sự bùng nổ phong trào Tây Sơn. 

1771-1802 là một trong những giai đoạn bạo lực nhất trong lịch sử Việt Nam mà nguyên nhân chính là sự thất bại của nhà nước dẫn đến mất niềm tin từ dân chúng và hệ quả bùng nổ bạo lực xã hội.

Việc vua Gia Long lên ngôi năm 1802 cũng chỉ phần nào lấy lại niềm tin cho “các nhà đầu tư’, đặc biệt là dân chúng ở miền Trung và miền Nam. Tuy nhiên các sửa soạn chính trị, quân sự, kinh tế, chính sách tôn giáo, dân tộc sau đó của Minh Mệnh lại một lần nữa gây ra xáo trộn trên phạm vi cả nước.

Minh Mệnh muốn tạo ra một nhà nước mạnh. Tập trung quyền lực, lãnh thổ là một cách. Mua những loại thuốc súng mới nhất của nước Anh là cách thứ hai, như ông tuyên bố. Nhưng việc có những súng ống tân tiến không đồng nghĩa có niềm tin của dân. Ông có trong tay những vị tướng giỏi như Tạ Quang Cự, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức… để đánh dẹp, và ông đã làm được, dẹp loạn từ nam chí bắc vào năm 1836. 

Nhưng ông cần các viên chức khác nữa để tiếp quản các làng mạc bị tàn phá, diệt trừ quan lại nhũng nhiễu, khôi phục lại cuộc sống của dân. Ở đó, nhà vua tìm thấy những người như Nguyễn Công Trứ.

“Luân chuyển cán bộ” chắc chắn không phải là một thực hành chính trị riêng có của thời hiện đại. Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị là những bậc thầy lão luyện của “luân chuyển cán bộ”. 

Và năm 1826, ‘cán bộ’ được luân chuyển là Nguyễn Công Trứ: từ điểm nóng Thanh Hóa ra Bắc thành, phụ trách Hình tào: cơ quan hình án của toàn Bắc thành, cũng là một bộ máy tham nhũng, hình án tệ đọng làm dân chúng phẫn nộ. Ông sẽ ở lại vùng đất này hơn một thập kỷ sau đó với sứ mệnh như một cánh tay nối dài của nhà vua nhằm ổn định tình hình trên vùng châu thổ bắc Kỳ.

Ở đó, Nguyễn Công Trứ không chỉ phô diễn sức mạnh của lưỡi gươm mà quan trọng hơn là vai trò tiên phong trong tìm kiếm lẽ công bình, xác lập trật tự, và khôi phục đời sống nhân dân. Chỉ có mang lại cuộc sống bình yên, ấm no cho dân chúng mới là hàn thử biểu cho chỉ số niềm tin của dân chúng vào nhà nước, và chính điều đó, chứ không phải quyền lực chính trị hay súng đạn, là cách thức nhà nước chinh phục “khối óc và con tim” của dân chúng.

“Ai dám đến đùa chơi ở ổ giặc”

Đó là câu nói đầu thế kỷ XIX mô tả vùng duyên hải từ Quất Lâm đến Đồ Sơn: từ phía bắc cửa sông Đáy, sông Trà Lý, sông Hồng đến cửa sông Thái Bình.

Khi Lê Chất (1769-1826), viên tổng trấn và vị tướng khét tiếng ở Bắc Thành qua đời, vùng đất này ngay lập tức chìm đắm trong bạo lực xã hội. Trận dịch năm 1820 và các trận lụt liên tiếp từ 1824 đã đẩy hàng nghìn cư dân ra khỏi vùng trũng Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình xuống duyên hải đông và đông nam. Đó là thế giới của “thổ phỉ”, cướp biển, buôn lậu, và đông đảo nhất là dân lưu tán. 

Họ bị đẩy ra khỏi ruộng đất, làng quê không chỉ bởi thiên tai mà còn do cường hào, quan lại tham ô, và chiến tranh tàn phá. Hình tào Bắc thành là một ví dụ. Sau cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, cơ quan này bị thanh tra, một người bị chém, mười người bị luận tội, trong khi số làm được việc chỉ “vài ba người” (DNTL, q. 49).

Để trấn an dân chúng và ổn định lại trật tự, Minh Mệnh cử Nguyễn Văn Hiếu, một quan chức có tiếng thanh liêm, từng cai quản vùng Nam Định, đi qua từng làng để phủ dụ, trừng trị quan lại tham nhũng. Theo chính sử nhà Nguyễn, “Bọn Hiếu đến đâu, xử kiện tụng, xét gian tang, quan lại ai cũng sợ hãi nín hơi”. Đây là bản tấu của ông:

“Dân hai trấn Sơn Nam, Nam Định trước bị giặc tàn phá, trong đó có 35 xã thôn trang trại thuộc các huyện Thiên Thi, Phù Dung, Hoài An, Chương Đức, Giao Thuỷ, Vũ Tiên, Thư Trì, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi và Diên Hà tàn hại rất dữ, dẫu ruộng chưa bỏ hoang hết, dân chưa xiêu tán hết, mà túng đói quẫn bách, không thể chịu nổi” (DNTL, q. 46).

Đáp lại lời tấu, Minh Mệnh sai tha thuế năm 1827, những binh dao tạp dịch bỏ thiếu từ năm trước đều cho hoãn lại, đồng thời cấp tiền gạo cho dân. Theo đó, nếu nhà dân bị đốt thì cấp 2 quan tiền 1 hộc thóc, mất hết của cải thì được cấp 1 hộc thóc; đánh nhau với giặc bị giết chết thì cấp tiền tuất.

Dự án chính trị của Nguyễn Công Trứ

Chín tháng sau phái đoàn của Nguyễn Văn Hiếu; Nguyễn Công Trứ đệ trình một trong những dự án chính trị táo bạo và có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Mục tiêu của kế hoạch này nhằm lập lại trật tự ở vùng châu thổ sông Hồng bằng cách tập hợp dân lưu tán và xác lập làng mạc tại các điểm nóng bạo lực. Ông đã nhắm đến vùng duyên hải nằm giữa cửa sông Đáy và sông Trà Lý, biến ngập mặn sình lầy thành nhà cửa, đồng lúa.

Trước tiên là hỗ trợ dân chúng khai hoang lập làng (xem bảng 1).

Sau đó là tổ chức đời sống xã hội, xác lập trật tự mới. Các ý tưởng cải cách táo bạo của  ông bao gồm việc thúc đẩy một bàn tay mạnh trấn áp cường hào, quan lại tham nhũng. Để khuyến khích quan lại tốt, ông đề ra giải pháp “cải cách hành chính” đột phá: giảm một nửa quan chức yếu kém và tăng lương để giữ thanh liêm. 

Cuối cùng, trọng tâm là việc chiêu mộ dân nghèo, lưu tán và những người tham gia các cuộc nổi dậy vào các làng xóm mới được xác lập. Chính ông xin Minh Mệnh ân xá cho những người nổi dậy đi khai hoang (DNTL, q. 51).

Dự án khai hoang, lấn biển, lập làng của Nguyễn Công Trứ (1828-1829) (xem bảng 2)

Kết quả của dự án này không chỉ là sự xác lập của hàng vạn người trên đất mới được khai mở hay các con số về đồng ruộng, lương thực, đơn vị hành chính mà còn là một ngôi đền của lòng dân. Vương triều Nguyễn và Nguyễn Công trứ đã không để lại một tượng đài nào ở vùng duyên hải này mà chính dân chúng đã xây dựng đền thờ. Đó phải chăng là  khi lòng dân lên tiếng.

Dân biết rõ ai là người đáng thờ và đâu là nơi trao gửi niềm tin.

Niềm tin đó, như câu chuyện về Nguyễn Công Trứ gợi ý, không đến từ sức mạnh quân sự, từ sự phô diễn của những ngôn từ chính trị lớn lao hay các thủ thuật mang tính Machiavelli, mà là sự chuyển hóa những ý tưởng cai trị thiết thực ra thực tế, biến thành hành động, và tạo ra hiệu quả. Niềm tin được thắp lên từ chính sình lầy, đồng ruộng chứ không phải các đài phun nước hay cổng chào tráng lệ.

Giống như bức hoành phi trong đền thờ Nguyễn Công Trứ: “Làm ruộng dưỡng đức”, chỉ có bức tượng đài tạc trong lòng dân mới trường tồn cùng năm tháng. Các ông vua đến rồi đi, vương triều thịnh rồi suy, tướng quân thành rồi bại, tể tướng thăng rồi giáng, chỉ có nhân dân là còn mãi. Một khi đã bước vào ngôi đền nhân dân thì dù là thời quân chủ, thời thuộc địa hay thời hiện đại… niềm tin và sự ngưỡng vọng sẽ vẫn nguyên giá trị.

Đáng tiếc đây chỉ là một trong số các thể nghiệm chính trị ít ỏi ở đầu thế kỷ XIX, trong bối cảnh của hệ thống chính trị quan liêu ngày càng thắng thế ở Huế và đã không được nhân rộng. Người Việt đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trong quá khứ để thoát khỏi khủng hoảng và phát triển kinh tế xã hội. Vẫn còn đó bài học của tiền nhân hôm qua cho hôm nay và ngày mai.

Tham khảo:

Vũ Đức Liêm. “Chơi với vua như đùa với hổ”: Nguyễn Công Trứ trong trật tự quyền lực của Minh Mệnh, trong Nguyễn Công Trứ và Sự nghiệp lập thân kiến quốc, biên tập: Nguyễn Công Lý, Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường, Nguyễn Ái Học (Hà Nội: KHXH, 2018): 157-187.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?