Để bước vào ngôi đền lòng dân

Giống như bức hoành phi trong đền thờ Nguyễn Công Trứ: “Làm ruộng dưỡng đức”, chỉ có bức tượng đài tạc trong lòng dân mới trường tồn cùng năm tháng. Các ông vua đến rồi đi, vương triều thịnh rồi suy, tướng quân thành rồi bại, tể tướng thăng rồi giáng, chỉ có nhân dân là còn mãi.

Khi các cư dân dọc theo vùng duyên hải đông nam châu thổ sông Hồng xây dựng đền thờ, họ đã không hướng đến những nhân vật quyền uy quân sự từng cai trị Bắc thành như Nguyễn Văn Thành (1802-1810), Lê Chất (1769-1826), những người mà quyền lực quân sự khét tiếng đã định hình nên không gian chính trị của vùng như một phần của nước Việt Nam hiện đại sau năm 1802.

Cuộc chiến đẫm máu thống nhất nước Việt Nam đã qua đi ba thập kỷ. Niềm tin và sự sùng kính của dân chúng đã không còn đặt trên yên ngựa hay thanh gươm mà dành cho những người nỗ lực không mệt mỏi cho cuộc sống bình yên, lẽ công bằng và ấm no dành cho dân chúng. 

Họ tin tưởng những vị quan tốt như Nguyễn Văn Hiếu, đưa vào đền thờ những người như Nguyễn Công Trứ vì chính các nỗ lực không mệt mỏi chăm lo cho cuộc sống của dân. Trong khi triều đình vinh danh ông với dẹp yên Phan Bá Vành, bình định Nông Văn Vân, dân đưa ông vào đền thờ với tư cách là một viên quan doanh điền, làm việc với bản đồ, với đồng chua nước mặn, với dân lưu tán, với trâu cày và với đê quai.

Dân biết rõ họ tin ai, thờ ai và vinh danh giá trị nào.

Hoành phi tại nhà thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Ninh Bình: "Phục diễn thực đức" (Làm ruộng dưỡng đức).
Hoành phi tại nhà thờ Nguyễn Công Trứ ở Kim Sơn, Ninh Bình: "Phục diễn thực đức" (Làm ruộng dưỡng đức).

Lòng dân, Nguyễn Công Trứ, Minh Mệnh, và thử nghiệm chính sách

Đó là nước Việt Nam của năm 1820. Vị hoàng đế ở Huế, Minh Mệnh đang tìm cách xây dựng một nhà nước tập trung mạnh để kiểm soát vùng lãnh thổ rộng lớn từ Lạng Sơn đến Hà Tiên. Không chỉ đối mặt với phân tán chính trị và các viên tướng lĩnh nhiều quyền uy, thách thức lớn nhất của Gia Long, Minh Mệnh là khôi phục và xác lập niềm tin của dân chúng đối với vương triều.

Nếu có một khảo sát về chỉ số niềm tin của dân vào các nhà nước từ 1400 đến 1850 thì con số này chắc chắn đã “chạm đáy” vào các “phiên giao dịch” cuối thế kỷ XVIII. Hệ quả của nó là sự sụp đổ của hai nhà nước: chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngoài và chính quyền chúa Nguyễn ở Đàng Trong, và sự bùng nổ phong trào Tây Sơn. 

1771-1802 là một trong những giai đoạn bạo lực nhất trong lịch sử Việt Nam mà nguyên nhân chính là sự thất bại của nhà nước dẫn đến mất niềm tin từ dân chúng và hệ quả bùng nổ bạo lực xã hội.

Việc vua Gia Long lên ngôi năm 1802 cũng chỉ phần nào lấy lại niềm tin cho “các nhà đầu tư’, đặc biệt là dân chúng ở miền Trung và miền Nam. Tuy nhiên các sửa soạn chính trị, quân sự, kinh tế, chính sách tôn giáo, dân tộc sau đó của Minh Mệnh lại một lần nữa gây ra xáo trộn trên phạm vi cả nước.

Minh Mệnh muốn tạo ra một nhà nước mạnh. Tập trung quyền lực, lãnh thổ là một cách. Mua những loại thuốc súng mới nhất của nước Anh là cách thứ hai, như ông tuyên bố. Nhưng việc có những súng ống tân tiến không đồng nghĩa có niềm tin của dân. Ông có trong tay những vị tướng giỏi như Tạ Quang Cự, Phạm Văn Điển, Lê Văn Đức… để đánh dẹp, và ông đã làm được, dẹp loạn từ nam chí bắc vào năm 1836. 

Nhưng ông cần các viên chức khác nữa để tiếp quản các làng mạc bị tàn phá, diệt trừ quan lại nhũng nhiễu, khôi phục lại cuộc sống của dân. Ở đó, nhà vua tìm thấy những người như Nguyễn Công Trứ.

“Luân chuyển cán bộ” chắc chắn không phải là một thực hành chính trị riêng có của thời hiện đại. Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị là những bậc thầy lão luyện của “luân chuyển cán bộ”. 

Và năm 1826, ‘cán bộ’ được luân chuyển là Nguyễn Công Trứ: từ điểm nóng Thanh Hóa ra Bắc thành, phụ trách Hình tào: cơ quan hình án của toàn Bắc thành, cũng là một bộ máy tham nhũng, hình án tệ đọng làm dân chúng phẫn nộ. Ông sẽ ở lại vùng đất này hơn một thập kỷ sau đó với sứ mệnh như một cánh tay nối dài của nhà vua nhằm ổn định tình hình trên vùng châu thổ bắc Kỳ.

Ở đó, Nguyễn Công Trứ không chỉ phô diễn sức mạnh của lưỡi gươm mà quan trọng hơn là vai trò tiên phong trong tìm kiếm lẽ công bình, xác lập trật tự, và khôi phục đời sống nhân dân. Chỉ có mang lại cuộc sống bình yên, ấm no cho dân chúng mới là hàn thử biểu cho chỉ số niềm tin của dân chúng vào nhà nước, và chính điều đó, chứ không phải quyền lực chính trị hay súng đạn, là cách thức nhà nước chinh phục “khối óc và con tim” của dân chúng.

“Ai dám đến đùa chơi ở ổ giặc”

Đó là câu nói đầu thế kỷ XIX mô tả vùng duyên hải từ Quất Lâm đến Đồ Sơn: từ phía bắc cửa sông Đáy, sông Trà Lý, sông Hồng đến cửa sông Thái Bình.

Khi Lê Chất (1769-1826), viên tổng trấn và vị tướng khét tiếng ở Bắc Thành qua đời, vùng đất này ngay lập tức chìm đắm trong bạo lực xã hội. Trận dịch năm 1820 và các trận lụt liên tiếp từ 1824 đã đẩy hàng nghìn cư dân ra khỏi vùng trũng Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình xuống duyên hải đông và đông nam. Đó là thế giới của “thổ phỉ”, cướp biển, buôn lậu, và đông đảo nhất là dân lưu tán. 

Họ bị đẩy ra khỏi ruộng đất, làng quê không chỉ bởi thiên tai mà còn do cường hào, quan lại tham ô, và chiến tranh tàn phá. Hình tào Bắc thành là một ví dụ. Sau cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành, cơ quan này bị thanh tra, một người bị chém, mười người bị luận tội, trong khi số làm được việc chỉ “vài ba người” (DNTL, q. 49).

Để trấn an dân chúng và ổn định lại trật tự, Minh Mệnh cử Nguyễn Văn Hiếu, một quan chức có tiếng thanh liêm, từng cai quản vùng Nam Định, đi qua từng làng để phủ dụ, trừng trị quan lại tham nhũng. Theo chính sử nhà Nguyễn, “Bọn Hiếu đến đâu, xử kiện tụng, xét gian tang, quan lại ai cũng sợ hãi nín hơi”. Đây là bản tấu của ông:

“Dân hai trấn Sơn Nam, Nam Định trước bị giặc tàn phá, trong đó có 35 xã thôn trang trại thuộc các huyện Thiên Thi, Phù Dung, Hoài An, Chương Đức, Giao Thuỷ, Vũ Tiên, Thư Trì, Thụy Anh, Phụ Dực, Quỳnh Côi và Diên Hà tàn hại rất dữ, dẫu ruộng chưa bỏ hoang hết, dân chưa xiêu tán hết, mà túng đói quẫn bách, không thể chịu nổi” (DNTL, q. 46).

Đáp lại lời tấu, Minh Mệnh sai tha thuế năm 1827, những binh dao tạp dịch bỏ thiếu từ năm trước đều cho hoãn lại, đồng thời cấp tiền gạo cho dân. Theo đó, nếu nhà dân bị đốt thì cấp 2 quan tiền 1 hộc thóc, mất hết của cải thì được cấp 1 hộc thóc; đánh nhau với giặc bị giết chết thì cấp tiền tuất.

Dự án chính trị của Nguyễn Công Trứ

Chín tháng sau phái đoàn của Nguyễn Văn Hiếu; Nguyễn Công Trứ đệ trình một trong những dự án chính trị táo bạo và có ảnh hưởng lớn nhất ở Việt Nam đầu thế kỷ XIX. Mục tiêu của kế hoạch này nhằm lập lại trật tự ở vùng châu thổ sông Hồng bằng cách tập hợp dân lưu tán và xác lập làng mạc tại các điểm nóng bạo lực. Ông đã nhắm đến vùng duyên hải nằm giữa cửa sông Đáy và sông Trà Lý, biến ngập mặn sình lầy thành nhà cửa, đồng lúa.

Trước tiên là hỗ trợ dân chúng khai hoang lập làng (xem bảng 1).

Sau đó là tổ chức đời sống xã hội, xác lập trật tự mới. Các ý tưởng cải cách táo bạo của  ông bao gồm việc thúc đẩy một bàn tay mạnh trấn áp cường hào, quan lại tham nhũng. Để khuyến khích quan lại tốt, ông đề ra giải pháp “cải cách hành chính” đột phá: giảm một nửa quan chức yếu kém và tăng lương để giữ thanh liêm. 

Cuối cùng, trọng tâm là việc chiêu mộ dân nghèo, lưu tán và những người tham gia các cuộc nổi dậy vào các làng xóm mới được xác lập. Chính ông xin Minh Mệnh ân xá cho những người nổi dậy đi khai hoang (DNTL, q. 51).

Dự án khai hoang, lấn biển, lập làng của Nguyễn Công Trứ (1828-1829) (xem bảng 2)

Kết quả của dự án này không chỉ là sự xác lập của hàng vạn người trên đất mới được khai mở hay các con số về đồng ruộng, lương thực, đơn vị hành chính mà còn là một ngôi đền của lòng dân. Vương triều Nguyễn và Nguyễn Công trứ đã không để lại một tượng đài nào ở vùng duyên hải này mà chính dân chúng đã xây dựng đền thờ. Đó phải chăng là  khi lòng dân lên tiếng.

Dân biết rõ ai là người đáng thờ và đâu là nơi trao gửi niềm tin.

Niềm tin đó, như câu chuyện về Nguyễn Công Trứ gợi ý, không đến từ sức mạnh quân sự, từ sự phô diễn của những ngôn từ chính trị lớn lao hay các thủ thuật mang tính Machiavelli, mà là sự chuyển hóa những ý tưởng cai trị thiết thực ra thực tế, biến thành hành động, và tạo ra hiệu quả. Niềm tin được thắp lên từ chính sình lầy, đồng ruộng chứ không phải các đài phun nước hay cổng chào tráng lệ.

Giống như bức hoành phi trong đền thờ Nguyễn Công Trứ: “Làm ruộng dưỡng đức”, chỉ có bức tượng đài tạc trong lòng dân mới trường tồn cùng năm tháng. Các ông vua đến rồi đi, vương triều thịnh rồi suy, tướng quân thành rồi bại, tể tướng thăng rồi giáng, chỉ có nhân dân là còn mãi. Một khi đã bước vào ngôi đền nhân dân thì dù là thời quân chủ, thời thuộc địa hay thời hiện đại… niềm tin và sự ngưỡng vọng sẽ vẫn nguyên giá trị.

Đáng tiếc đây chỉ là một trong số các thể nghiệm chính trị ít ỏi ở đầu thế kỷ XIX, trong bối cảnh của hệ thống chính trị quan liêu ngày càng thắng thế ở Huế và đã không được nhân rộng. Người Việt đã bỏ lỡ nhiều cơ hội trong quá khứ để thoát khỏi khủng hoảng và phát triển kinh tế xã hội. Vẫn còn đó bài học của tiền nhân hôm qua cho hôm nay và ngày mai.

Tham khảo:

Vũ Đức Liêm. “Chơi với vua như đùa với hổ”: Nguyễn Công Trứ trong trật tự quyền lực của Minh Mệnh, trong Nguyễn Công Trứ và Sự nghiệp lập thân kiến quốc, biên tập: Nguyễn Công Lý, Đoàn Lê Giang, Lê Quang Trường, Nguyễn Ái Học (Hà Nội: KHXH, 2018): 157-187.

Vũ Đức Liêm

Các tin khác

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.