Con gái Cầu Cậy, má đỏ hồng hồng…

Vô lý quá, chẳng lẽ đã đàn bà thì phải ghen? Ai quả quyết chắc cú, chắc nịch đến thế? “Ớt nào là ớt chẳng cay/ Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”. Mà thôi, không bàn chuyện này, dẫu có bàn đến tết Maroc chắc gì đã xong. Chi bằng hãy tự hỏi, ớt cay, vâng nó cay nhưng cay như thế nào?

Sực nhớ một câu chuyện cười ở Quảng Nam, có anh chàng nọ ghé chơi nhà bạn vào giờ cả nhà đang cơm, chủ nhà mời, chỉ thêm bát đũa, gặp dịp làm dăm ba miếng cho xong bữa. Vui thôi mà. Ấy thế, dù muốn ăn nhưng khách vẫn ngại, làm khách bèn ậm ừ từ chối nhưng rồi cảm thấy tiếc vì đang đói. Quân tử nhất ngôn, quân tử dại; quân tử nói lại quân tử khôn. 

Khôn trong tình huống này là phải tìm lấy cái cớ. Kìa, trên mâm cơm có mấy trái ớt mơn mởn xanh, bèn nói: “À, lâu lắm mới thấy ớt sừng trâu, ngon lắm đây, thôi thì, làm bậy một miếng cho vui”. Tức là không phải vì đói, vì thèm ăn mà chỉ vì vị cay của ớt. Nói khéo quá, nhưng do biết tỏng bụng dạ nên mới tức cười.

Ảnh: L.G
Ảnh: L.G

Người ta đã nói nhiều về cái ngon của tô mì Quảng, nhưng chưa nghe nói đến cái sự thú vị của món ăn này, ngoài dầu phọng chứ không phải loại dầu nào khác và nhất là phải có trái ớt sừng trâu. Thử tưởng tượng lùa xong một miếng, vừa cầm đũa vừa cầm lấy trái ớt xanh rồi hiên ngang cắn cái rụp, nhai cái rốp bỗng nghe âm thanh ấy gợi cảm biết chừng nào. Ớt sừng trâu không cay lắm, nhai rôm rốp cũng không sao. Trong khi đó, với người Huế lại khác, họ thích cay phải thiệt cay mới đã nư, đã đời, mới khoái khẩu đứt đuôi con nòng nọc.

Thế thì, cay ấy thế nào?

Thay vì ngồi nhớ lại, chi bằng lật quyển “Tự điển tiếng Huế” (NXB Văn học-2004) để xem ông Bùi Minh Đức đã liệt kê ra làm sao? Thì đây, “cay chảy nước mắt, cay dễ sợ, cay điếc óc, cay điếc tai, cay hít hà, cây phỏng miệng, cay toát mồ hôi hột, cay tóe khói, cay xé họng, cay xé lưỡi, cay túi mắt túi mũi (túi, ta hiểu là tối), ngoài ra còn có thêm một kiểu cay nữa (xin lỗi), từ điển của ông Đức ghi nhận: “cay thấu lỗ đít”. Còn từ nào khác không? Chắc còn. Bạn mình ơi, có gì, cứ bổ sung thêm. Âu cũng là một cách thu nhặt thêm vốn từ tiếng Việt.

Mà, trong tiếng Việt đôi khi ta bắt gặp từ cay như chắc gì đã… cay? Minh họa cho ý kiến này, hãy đọc lại đôi câu lẫy Kiều - những câu ghép lại từ kiệt tác của đại thi hào Nguyễn Du:

Nghĩ mình phận mỏng cánh chuồn

Khuôn xanh có biết vuông tròn mà hay

Chẳng duyên chưa dễ vào tay

Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung.

Cắc cớ hỏi, bốn câu này nhằm… đố vật dụng gì? Rằng thưa, đáp án chính là cái quạt giấy cầm tay. Sở dĩ, các nan quạt xòe ra/ khép lại: “Nỗi đêm khép mở, nỗi ngày riêng chung” là do lại nhờ có cay. Cay là cái gì mà nghe lạ tai quá? Trả lời câu hỏi này, chi bằng cứ đọc lại bài thơ “Vịnh cái quạt” của Bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương. Rất ấn tượng. Ta đọc và thấy rõ mồn một hình ảnh từ các con chữ đã dựng nên những câu thơ lắt léo:

Mỏng dày chừng ấy, chành ba góc,

Rộng hẹp dường nào, cắm một cay.

Cay chứ không phải cây. Thế, cay là gì? Một từ cũ đã từng quen thuộc ở ngoài Bắc, trong Nam ít nghe thấy chăng? “Cay: Cái phần đuôi dao để cắm vào chuôi: Dao lỏng cay” (“Việt Nam tự điển” - 1931). Dân trong nghề làm quạt gọi nhài quạt, tức cây xỏ nan quạt và diễn tả: “Khi bộ xương quạt đã tạm ổn là lắp cúc và đóng nhài. Như thế có bộ xương quạt hoàn chỉnh” (“Nghề cổ đất Việt”, Vũ Từ Trang, NXB Văn hóa Thông tin - 2007, tr.210). À, thì ra thế, thế mà lâu nay do ba trợn ba trạo, xớn xa xớn xác y cứ nghĩ “cắm một cây” dù “cái đó” nói “rộng hẹp dường nào”. Đúng là bé cái nhầm.

Ngoài từ cay, còn có từ tương tự là ngạt. Bằng chứng “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895) ghi nhận “ngạt quạt”: “Cái cốt tra tại đầu quạt”. Còn có cụm từ cay ngạt: “Thường nói về lời gay gắt. Cái cay và cái ngạt là cốt cái dao, cái kéo. Lời nói có cay có ngạt, thì là gay gắt quá”. Trộm nghĩ, ban đầu người ta sử dụng “cay ngạt” nhưng về sau, do từ ngạt dần dần phai nghĩa nên mới ngạt mới lái sang nghiệt chăng? Cay ngạt thành cay nghiệt như nay ta hiểu là “độc ác, khắt khe, nghiệt ngã trong đối xử” - “Đại từ điển tiếng Việt” giải thích. Suy luận này, có hợp lý không ta?

Với từ cay, trong một ngữ cảnh nào đó, còn được hiểu là “Làm cho nóng lên. Cay con mắt: Làm cho con mắt nóng lên, ngứa ngáy” - theo “Từ điển Việt-Bồ-La” (1651). Tục ngữ có câu Cay như ớt, nhớt như nheo. Nheo là gọi tắt của cá nheo, loài cá nước ngọt, không vẩy, nhiều nhớt, bởi thế mới có câu Đổ nhớt cho nheo. Không chỉ cay như ớt, còn có:

Tay nâng chén muối đĩa gừng

Gừng cay muối mặn, xin đừng quên nhau.

Cay là có vị nồng, làm cho tê đầu lưỡi, cay đến độ cay xé bản họng, cay điếc con ráy, cay chảy nước mắt - thế nhưng câu thơ của danh tướng Đặng Dung (Trần Trọng Kim dịch):

Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,

Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.

hoặc ông Tú Xương thở ngắn than dài:

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín,

Thi không ăn ớt thế mà cay.

Thì cay ở đây không liên quan gì đến vị giác, chính là lòng căm tức, xót xa, bực bội. À này, dám nói với bạn mình rằng, trong tiếng Việt, giữa y và i đã phân biệt rõ ràng, dù có ý kiến cho rằng đổi quách y thành i cho gọn (!?), nhưng trường hợp cay và cai thì không thể. Đúng chóc. Nhà văn Vũ Bằng viết tác phẩm “Phù dung ơi vĩnh biệt”, trước đó, năm 1944, trong bản in thứ nhất ông đặt tựa là “Cai”. Cai là từ bỏ, đoạn tuyệt, chừa, không dính dáng tới nữa cái mà mình đã nghiền nặng. Theo nhà ngôn ngữ học Lê Ngọc Trụ, cai là tiếng Việt chuyển gốc Hán Việt: “Cai, dùng thuốc để giải bịnh nghiền: cai á phiện < giới (yên): răn đe, chữa trị”. Cụ Nguyễn Khuyến từng tự trào, có vài dị bản, cho phép y chọn bản này:

Những lúc say sưa cũng muốn chừa

Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa

Hay ưa nên nỗi chưa chừa được

Chừa được nhưng ông vẫn chửa chừa.

Trong chừng mực nào đó chừa cũng là cai, là bỏ, là thôi, là bỏ bớt, hạn chế nhưng cai lại chỉ sự quyết liệt, triệt để hơn, tuyệt đối không còn xơ múi, sử dụng thêm một lần nào nữa… Với cai, còn nghe nói đến cai đầu dài, đó là cụm từ mỉa mai nhằm chỉ những ai đứng ra làm trung gian nhận việc với chủ hàng, rồi giao lại cho nhiều người khác với tiền công thấp hơn, rẻ mạt, rẻ như bèo/ bèo như con cá kèo nhằm kiếm ăn trên số tiền chênh lệch đó. Còn cai thầu lại hiểu cũng là người trung gian để nhận việc giữa chủ và người làm thuê, nó chỉ có sắc thái khinh miệt, biếm nhẽ nếu một khi người đó trở thành loại ăn chặn công sức lao động của người làm công với tên gọi cai đầu dài.

Tuy nhiên, đọc lại truyện xưa ở miền Nam còn gặp từ “tằng khảo”, tìm hiểu ra mới biết tằng khảo là đồng khảo (tiếng Triều Châu), “Phương ngữ Nam Bộ” của Bùi Nam Kiên giải thích có 2 nghĩa: “1. Người thay mặt chủ điền để coi sóc ruộng nương hoặc thay mặt chủ để trông coi chiếc ghe chài; 2. Từ mà người Hoa dùng để gọi người cai phu (surveillant)”. Ở đoạn giải thích này, thích quá, bèn dừng lại với từ “chủ điền/ điền chủ” và hỏi rằng, cơn cớ làm sao, trong Nam lại không gọi “địa chủ” như ngoài Bắc? Bạn mình có biết, giải thích giúp nhá. Chưa à? Không sao cả. Từ từ thì khoai cũng nhừ. Ta hãy trở lại với bài thơ “Vịnh cái quạt” của Hồ Xuân Hương, trong đó còn có câu:

Hồng hồng má phấn duyên vì cậy,

Chúa dấu vua yêu một cái này.

Thế, cậy nghĩa là có phải là cậy/ cậy nhờ, mượn như ta đã gặp trong  “Truyện Kiều”: “Cậy em em có chịu lời/ Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa”? Không, cậy là loại trái cây như hồng, trái nhỏ có nhựa dùng để phất quạt, phất cờ. Sau khi rửa sạch trái cậy, người ta đem giã nhỏ, cho ngâm nước, vài ngày sau, gạn bã, dùng nước đó để phất lên các nan quạt, muốn có màu gì thì pha thêm phẩm màu đó. Mà, cậy còn có nghĩa là ỷ lại, như tục ngữ có câu Chó cậy gần nhà, gà cậy gần vườn. Trước đây với từ cậy có vế đối cực hay:

Con gái Cầu Cậy, má đỏ hồng hồng, muốn đi lấy chồng để mà trông cậy;

Cầu Cậy tức làng Kiêu Kỵ thuộc Gia Lâm (Hà Nội); “má đỏ hồng hồng” còn nói lên sắc màu của trái cậy. Vế ra đối khéo quá đi mất, lại thanh lịch nữa, khó đối lại. Chính vì khó, có thằng cha ba trợn, ba búa nào đó vì bí quá mới đối lại cực kỳ lếu láo:

Ông lão Hàng Mây, da xanh mai mái, thích chơi con gái, sướng đại cung mây.

Cái sự thô tục, bặm trợn, trắc nết kiêm dê cụ vẫn là cái câu: “thích chơi con gái”. Già thế này người ta mắng là Già không nên nết, Già hay đái tật, Già chơi trống bỏi, đã Già kề miệng lỗ còn ham hố thế này thì con cái còn nhờ cậy gì nữa? Ơ hay, chuyện của thiên hạ, kệ họ, xía vào làm chi. Chi bằng ta hãy đọc thêm câu ca dao:

Còn duyên bán cậy, bán hồng

Hết duyên buôn mít cho chồng cậy xơ.

Cậy trong câu lại hàm nghĩa hóm hỉnh vừa là nhờ/ nhờ cậy nhưng khổ nỗi xơ mít thì ngon lành cái nỗi gì, chỉ là thứ người ta vứt đi; cậy còn tếu táo ở chỗ dù là thế nhưng anh chồng còn phải nhọc công lắm vì cậy đồng âm với cạy/ cậy là nạy, làm cho bật ra, bung ra, long ra cái gì đó đang bám sát khít khìn khịt… Khổ thiệt, hết cái gì để cạy bèn cạy xơ mít thì còn ra cái thể thống gì nữa? Ừ, đành là thế nhưng đang vui nên xin nói thòng thêm câu này nữa:

Anh ơi sóng gió liên miên

Ra công bát cạy cho thuyền tới nơi.

thì cạy lại là lái thuyền về bên trái, bát là bên phải. Liệu chừng trong tiếng Việt, có từ cạy cạy không? Có đấy chứ. “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi có câu:

Tua xả khoan khoan, lòng thế ít

Chớ màng cạy cạy, khiến lòng phiền.

Cạy cạy là từ cổ, nghĩa là nhớ, lo, nghĩ, mong muốn. Vậy nên, câu tục ngữ ra đời thuở ban đầu Ăn mắm cáy ngáy kho kho, ăn thịt bò lo cạy cạy - trải qua năm tháng, do cạy cạy không ai nhớ đến nghĩa nên đã nói trại qua “ngay ngáy”.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?