Cõi điện ảnh của Hồ Quang Minh, một tương phản với Trần Anh Hùng

"Chúng tôi không tin phim này làm ở Việt Nam", hai lần xem, hai lần ban tuyển chọn Cannes đều kết luận một câu như thế khi xem “Con thú tật nguyền”, theo lời kể lại của đạo diễn người Thụy Sĩ gốc Việt Hồ Quang Minh, và vì thế mà bộ phim không được chọn tranh giải.

Không rõ ý họ không tin phim này làm ở Việt Nam là vì lí do gì, vì kỹ thuật làm phim, hay vì bầu không khí của bộ phim. Nhưng giả dụ như là vì lí do sau, thì cũng thật kỳ lạ bởi chỉ mấy năm sau đó, chính Cannes trao cho Trần Anh Hùng giải Camera d'Or (Máy Quay Vàng) cho bộ phim đầu tay “Mùi đu đủ xanh”.

Cùng là những đạo diễn Việt Kiều, cùng có một nàng thơ chính là vợ - người cũng chỉ đóng phim do chồng mình làm (Trần Anh Hùng có Trần Nữ Yên Khê và Hồ Quang Minh có Hồ Phương Dung), cùng có gì đó liên quan tới đạo diễn Lê Lâm (những năm lẫm chẫm vào nghề, Hồ Quang Minh từng làm trợ lý cho Lê Lâm khi Lê Lâm thực hiện bộ phim “Đế chế tàn vụn” (Poussière d'empire) còn Trần Anh Hùng thì nói nếu không có “Đế chế tàn vụn” thì không có “Mùi đu đủ xanh”) Tất nhiên họ cùng kể những câu chuyện về Việt Nam. 

Nhưng trong khi Trần Anh Hùng duy mỹ một cách tuyệt đối, song chính vì thế mà có gì đó xa lạ, các nhân vật của Trần Anh Hùng dù rõ là người Việt nhưng lại như bước tới từ những giấc mơ của chính tác giả hơn, thì Hồ Quang Minh lại thâu nạp những triết lý rất bản địa, và những nhân vật của ông là kết quả của những va chạm giữa truyền thống và đổi mới, giữa vần xoay lịch sử và nội tâm con người. 

Một cảnh ấn tượng trong phim “Con thú tật nguyền”.
Một cảnh ấn tượng trong phim “Con thú tật nguyền”.

Không phải Hồ Quang Minh không duy mỹ. Nói riêng “Con thú tật nguyền”, có ít nhất hai cảnh phim vô cùng đẹp. Một cảnh đầu phim, có một người phụ nữ vận đồ trắng đi giữa sa mạc mênh mông, rồi một người đàn ông mặc đồ lính, mặt quấn kín băng trắng, ném cho cô những xấp tiền - một cảnh phim đầy chất siêu thực và biểu tượng. 

Một cảnh khác, cảnh khiêu vũ trong hộp đêm, một vũ nữ khiêu vũ một mình dưới ánh sáng vàng vọt trong tiếng kèn hơi bài “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn - một cảnh phim đầy bóng tối và buồn mênh mông. Nhưng sự duy mỹ của Hồ Quang Minh không xoáy vào những chi tiết có vẻ Á Đông bí ẩn và xa lạ với người phương Tây như ở Trần Anh Hùng. 

Có lẽ vì thế mà người ta nghĩ nó không giống một bộ phim làm tại Việt Nam chăng? Bao giờ cũng vậy, trong mắt người da trắng, dân da vàng có gì đó thật kỳ lạ, thật khác biệt, thật không giống họ, và một bộ phim cứ phải như vậy thì theo họ, mới đúng là châu Á.

“Con thú tật nguyền” do Hồ Quang Minh làm cùng Hãng phim Giải Phóng sau khi đoạt giải Bông sen Bạc với một bộ phim tài liệu ngắn. Sau này, các đạo diễn Việt kiều nhiều như sao trên trời, được đón nhận nhiệt liệt, những đạo diễn bảo chứng cho doanh thu phòng vé thì có Charlie Nguyễn, Victor Vũ, còn các phim nghệ thuật hơn thì có Nguyễn Võ Nghiêm Minh, Lưu Huỳnh, Đoàn Minh Phượng, Leon Lê. 

Nhưng thời Hồ Quang Minh mới làm phim, thậm chí còn chưa có cơ chế cho đạo diễn Việt kiều làm phim với các hãng phim Việt Nam, và muốn làm thì phải theo diện liên doanh.

“Con thú tật nguyền” kể về quân đội rệu rã của chính quyền Sài Gòn trước năm 1975, họ vừa đánh nhau, vừa vướng vào những cuộc yêu đương rắc rối với những cô gái điếm si tình. Đó là một bộ phim chiến tranh, nhưng lại không phải một bộ phim chính trị. 

Thay vì co cứng hình ảnh những người lính miền Nam như quân cờ của một ý thức hệ nào đó hay nạn nhân của một chế độ đang suy đồi như sách sử vẫn thường mô tả, Hồ Quang Minh nhìn họ trên tư cách con người, chỉ là họ bị mắc kẹt trong một thời đại bất thường mà thôi.

Việt Nam hiện lên Việt Nam vô cùng, bất chấp vẻ ngoài không kín đáo của nó, bất chấp những cảnh khỏa thân, những câu thoại đầy tính "khiêu khích". Nga, nhân vật nữ chính, cô gái làng chơi yêu Bình, một người lính, một người lính với gương mặt bị hủy nhan, nhưng anh ta khinh rẻ cô.

 Nga không phải một Thúy Kiều phiên bản hiện đại, chẳng gì bào chữa được cho việc nàng làm điếm, nhưng trong cái cách nàng lẽo đẽo theo người đàn ông ấy cả đến khi anh ta chết, sự cao quý trong tình yêu của nàng không thể không khiến người ta nghĩ tới nhân vật Duyên trong “Bao giờ cho đến tháng Mười” của đạo diễn Đặng Nhật Minh - một tâm hồn đại diện cho tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam.

Cảnh cuối của “Thời xa vắng”.
Cảnh cuối của “Thời xa vắng”.

Đời làm phim của Hồ Quang Minh không thực sự đồ sộ. Ngoài “Phường tôi” là một bộ phim tài liệu ngắn, chỉ có bốn tác phẩm điện ảnh, sau “Con thú tật nguyền” có “Nhân dân là trang giấy trắng”, “Bụi hồng”, và ‘Thời xa vắng”. 

Và trong bốn phim này, nếu trừ đi “Nhân dân là trang giấy trắng” vì bộ phim kể về một phụ nữ Campuchia dưới chế độ Khmer Đỏ, thì ba bộ phim còn lại hãy cứ tạm coi là "Vietnam trilogy" (Việt Nam tam bộ khúc, như cách người ta hay gọi về “Mùi đu đủ xanh” - “Xích lô” - “Mùa hè chiều thẳng đứng” của Trần Anh Hùng).

Ba phim - ba bối cảnh địa lý - ba câu chuyện không có gì liên hệ trừ cái nền chung là những thăng trầm khói lửa, “Con thú tật nguyền”, như đã nói, là câu chuyện một người lính Việt Nam Cộng hòa và mối tình oan trái với cô gái làng chơi, “Bụi hồng” lại là câu chuyện về một ngôi chùa ở Huế, với một vị cung phi cắt tóc đi tu sau khi vua Bảo Đại thoái vị, còn “Thời xa vắng”, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Lê Lựu, là câu chuyện của một anh nông dân miền Bắc phải ôm khư khư những đòi hỏi của gia đình, của thời đại mà anh sống, nhưng sâu trong anh, hình như có điều gì khác. Vậy nhưng, chúng gặp nhau ở những tâm hồn mà ta chỉ có thể ở một đất nước với những biến cố đó, những ẩn ức đó và những mơ ước đó.

Sống trong một thời đại rút cạn kiệt năng lượng của một đời người, bởi chiến tranh, bởi xây dựng đất nước mới, bởi những chế độ sụp đổ, con người không bao giờ được yên ổn trong tâm hồn, họ cứ âm thầm đau đáu đi tìm một cái gì đó cắt nghĩa được chính mình, cho mình và cho riêng mình. 

Sài của “Thời xa vắng” vọng tưởng về một tình yêu tự do, một tình yêu cao khiết, văn minh, thoát tục, vượt ra khỏi cái lán nhà u tối với người vợ không biết chữ mà anh buộc phải cưới về để đẹp mặt dòng họ. Người cung phi lên chùa, những tưởng từ đây cắt đứt với thế nhân, nhưng bủa vây ngôi chùa là giặc Tây rồi lại giặc ta, và sống trong cái thời mà một nhà sư phải xuống đường tự thiêu để tỏ rõ lòng mình, chốn Phật đài, nơi nhập thất cũng không còn là chỗ an ổn thanh tu nữa.

Cái khác biệt giữa Hồ Quang Minh và Trần Anh Hùng là sự hòa giải - và có lẽ đó là điều Á Đông nhất ở Hồ Quang Minh mà ta thấy hơi thiếu vắng ở Trần Anh Hùng. Trong bộ phim có tính xã hội nhất của mình là “Xích lô”, Trần Anh Hùng đã đẩy các nhân vật đến tận cùng của sự tự sát, của cơn phê ma túy, của cơn điên. Ngay cả khi cuộc sống của họ trở lại bình thường ở đoạn cuối cùng, thì đấy là bởi nó buộc phải thế chứ không hẳn là họ đã hòa giải được với nhau và với số phận của mình. Họ thiếu sự đối thoại và thấu hiểu đến cùng cực.

Còn với Hồ Quang Minh thì khác, những cảnh quan trọng nhất của Hồ Quang Minh - những cảnh cuối phim - luôn là sự đối thoại. Dù đó có thể là cuộc đối thoại giữa kẻ đang sống và người đã chết chỉ toàn tiếng nức nở trên chuyến đò chở thi hài (“Con thú tật nguyền”, khi Bình chết và Nga theo đưa xác Bình đi). 

Dù đó có thể là một cuộc đối thoại hoàn toàn lặng im giữa ba chị em trong “Bụi hồng” - một người đã đi tu, hai người còn lại vốn trước kia ở hai chiến tuyến Nam - Bắc. Hoặc là một cuộc đối thoại cũng im lặng nữa, khi Sài, trong đám cưới đứa con, bảo nó hãy gọi cả mẹ nó - người vợ anh đã xa lánh bấy nhiêu năm - lên chụp một tấm ảnh gia đình. Người vợ cứ vừa khóc vừa mếu, đứng gượng gạo bên chồng, máy ảnh lóe sáng và phim kết thúc.

Cảnh cuối của “Thời xa vắng” chắc chắn là một trong những cảnh phim đáng nhớ nhất, xúc động nhất của điện ảnh Việt Nam. Nó làm người viết bài nhớ đến cảnh cuối trong “Bi tình thành thị” - bộ phim Đài Loan của đạo diễn Hầu Hiếu Hiền từng được Liên hoan phim Busan xếp số một trong danh sách 100 phim châu Á hay nhất mọi thời đại. “Bi tình thành thị” kể về lịch sử một gia đình gắn liền với lịch sử một giai đoạn u ám của Đài Loan. Vậy mà đến cảnh cuối cùng, gia đình họ Lâm vẫn ngồi bên nhau trong một mâm cơm, trong khi cả 4 người con trai, kẻ thì chết, kẻ thì hóa điên, kẻ thì mất tích.

Á Đông có lẽ chính là như vậy, sau tất cả, ta hòa giải, thậm chí thỏa hiệp với số phận của mình, để sống, để tiếp tục sống.

Hiền Trang

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?