Có một thế giới đàn bà phồn tạp

Ma Văn Kháng từng có một truyện ngắn viết năm 1994 lấy nhan đề: “Những người đàn bà”. Truyện được viết theo kết cấu ghép mảnh, mỗi mảnh là một nhân vật cùng những câu chuyện của họ, chúng kết dính lấy nhau, trải rộng ra như một bức tranh lập thể đa sắc.

Như chính cái tên truyện, nhân vật trong “Những người đàn bà” là những người đàn bà. 5 người: trẻ có, trung tuổi có, chớm lão có, cán bộ có, công nhân có, hưu trí có, vô công rỗi nghề có, sống cùng một khu tập thể. Năm người đàn bà ấy, người này kể với người kia về chuyện của những người còn lại, cứ thế đan vào nhau mà thành cả một thế giới của những lời rì rầm, những tiếng xuýt xoa, những tràng cười ré lên, những hổn hển thỏa mãn, những rấm rứt tức tưởi, những thở dài sườn sượt, những nước mắt ai oán... 

Thế giới đàn bà. Một thế giới mà, khi quây lại với nhau thành vòng tròn khép kín, họ nhận ra sự thật: “Hóa ra còn một cuộc sống thầm thào chảy ở bên dưới cuộc sống lộ thiên nhìn thấy... Còn một cuộc sống bí mật nữa, đó là cái khoái lạc vô lượng của dục tình, niềm sung sướng vô biên của trò ái ân vụng trộm. Chao ôi! Nhiễm sắc thể đắm dục hàm chứa sức công phá căn bệnh lãnh cảm cùng thói đạo đức giả sao mà mạnh mẽ thế!”. 

Đồng thời, họ cũng lại nhận ra một sự thật khác: “Chao ôi, đời người sao mà khổ ải khủng khiếp đến thế! Không phải chỉ vì nó là cuộc kiếm sống, là cái khốn khó để giành giật miếng ăn, để lấp đầy cái dạ dày. Mà là để cho trọn vẹn một đời sống khác, một đời sống bao giờ cũng hướng về sự hoàn thiện, đầy ảo tưởng tôn giáo, vì ở đó có sự hiến mình cao cả cho tình yêu”.

Ảnh: L.G.
Ảnh: L.G.

Hai đoạn văn tôi vừa dẫn không phải lời của nhân vật, mà là lời của người kể chuyện (một kiểu bình luận ngoại đề khá phổ biến trong truyện ngắn Ma Văn Kháng. Ở đây tôi tạm gạt tiểu thuyết sang một bên, chỉ nói đến truyện ngắn). Đó là hai phán đoán đối lập, trái ngược nhau về nghĩa. 

Một: nhấn vào “dục tình” và “trò ái ân vụng trộm”, tức là sự thỏa mãn nhu cầu tình dục bằng những quan hệ ngoài luồng lắt léo. Hai: khẳng định “sự hiến mình cao cả cho tình yêu” như một tình cảm tôn giáo, như một nhu cầu về sự tự hoàn thiện của tinh thần. 

Nếu có thể coi người kể chuyện và tác giả là đồng nhất thì hai phán đoán này cũng chính là hai cái nhìn-và-thấy của Ma Văn Kháng, hai chủ đề cơ bản của nhà văn khi ông viết về những người đàn bà. 

(Những nhân vật đàn bà trong truyện ngắn Ma Văn Kháng nói chung khá đa dạng, họ có thể được đặt trong mối quan hệ mẹ chồng - nàng dâu, trong các mối quan hệ với gia đình dòng tộc, trong các mối quan hệ với cái “cõi người ta” phức tạp và đầy biến động ngoài kia; nhưng xuất hiện nhiều nhất vẫn là những người đàn bà trong quan hệ giới tính với những người đàn ông, tức trong khung khổ của tình dục/tình yêu nam nữ). 

Khước từ việc phải đánh giá tốt - xấu về mặt đạo đức, khi viết về người đàn bà ở cả hai cái nhìn-và-thấy này, Ma Văn Kháng giữ một lập trường trung tính, một thái độ bình thản của người thấu suốt lẽ đời: cuộc đời là thế, con người là thế, người đàn bà là thế, tất cả đều có thể “Có”, mà “Có” thì ắt là hợp lý. 

Ngay ở truyện “Những người đàn bà”, khi kể về những trò mèo chuột vụng trộm của bà Tài, chị Nhi hay cô Thơ, ông không lên án, mà dường như chỉ tủm tỉm cười. Cái cười có tính chất hài hước hóa cách người đàn bà háo hức lén lút giải quyết khối xung năng dư thừa của họ. Cái cười ấy còn được lặp lại ở một số truyện ngắn khác, như “Ngẫu sự”, “Chọn chồng”, “Một mối tình si” v.v... 

Lấy ví dụ truyện “Ngẫu sự”: chị Bường tuổi bốn mươi, có chồng là anh Khoản thợ hàn, làm việc trên công trình thủy điện sông Đà. Lúc chồng công tác xa nhà, chị ngoại tình với ông Dụng, đội trưởng đội cầu bên đường sắt đã nghỉ hưu. Lúc chồng về, chị lại ríu rít bên chồng, như không. Rồi chị sinh ra những đứa con, của cả người này của cả người kia, chẳng ai biết đấy là đâu. 

Sự việc chỉ có thế nhưng từ góc nhìn và giọng kể của nhân vật người kể chuyện xưng Tôi, chuyện trở nên sinh động lạ thường. Sinh động, bởi nhân vật được mang kiểu hình ảnh diện mạo thuộc hẳn vào phạm trù “grotesque” (cái thô kệch): xồ xề, to ngang, bụng xệ mỡ nhưng lại có cái miệng cười hoa nở và cái mũi lai chủng tộc Âu Tây cao nhọn. 

Sinh động, bởi thủ pháp nhại của giọng kể: chuyện tình vụng trộm của đôi lứa về chiều - thực chất là cuốn vào nhau chỉ vì ham muốn tình dục lạ - lại được khoác cái áo của một chuyện tình thuở đầu đời đầy lãng mạn. 

Sinh động, bởi thứ giọng kể trộn lẫn bình luận rất hóm hỉnh, ví như: “Lửa tình râm ran trên mỗi miền cơ thể Bường, đượm đà trong mỗi cử chỉ và giọng nói của chị chàng. Nhất là giọng nói. Một giọng nói tẩm hương tình, vang bổng trong trời thu càng về cuối mùa càng xanh trong”. Xin phép được lặp lại: ở đây không có phê phán, chỉ có sự thấu suốt lẽ đời. (Mà như thế cũng đồng nghĩa với một thái độ chấp nhận nhất định rồi). 

Tôi không tin lắm vào việc nhà văn Ma Văn Kháng là một nhà nữ quyền luận hay là một người ủng hộ chủ nghĩa nữ quyền. Nhưng cách ông nhìn-và-thấy những người đàn bà chơi “trò ái ân vụng trộm” như bà Tài, chị Nhi, cô Thơ trong “Những người đàn bà”, chị Bường trong “Ngẫu sự”, cô Quý trong “Chọn chồng”, chị Oanh trong “Một mối tình si” v.v... quả thực là một sự giải phóng người đàn bà khỏi cái khung khổ “tam tòng tứ đức” xưa cũ lẫn cái khung khổ “giỏi việc nước, đảm việc nhà” chưa xưa lắm. Ít nhất, có lẽ nhờ thế mà họ được hoàn nguyên là người đàn bà trong một sự đắm dục liều lĩnh ngây ngất của bản năng nhân tính.

Đó mới chỉ là một vế. Còn vế đối lập, trái nghĩa với nó - tức “sự hiến mình cao cả cho tình yêu” mang đầy chất ảo tưởng tôn giáo mà nhà văn đã nhìn-và-thấy ở người đàn bà - ta có thể đọc ra ngay được từ “thân phận tình yêu” của nhân vật chị Tươi trong truyện ngắn “Những người đàn bà”. 

Trong 5 người đàn bà sống cùng khu tập thể ấy, Tươi khác 4 người kia: chị không phải người “nói cùng” với họ những câu chuyện giường chiếu hả hê ngồi lê đôi mách, mà chỉ là đối tượng cho họ nghe ngóng dò hỏi rồi chụm đầu vào nhau để “nói về”. 

Tươi có chồng là một người viết văn. Tươi bị chồng ngược đãi, phụ tình sau khi đã âm thầm đứng đằng sau để giúp cho anh ta trở nên nổi tiếng. Chồng bỏ đi theo người đàn bà khác, Tươi vẫn chính chuyên như nhất, một mình nuôi con chờ đợi sự hồi đầu. 

Toàn bộ câu chuyện này được “phiên dịch” bằng một đoạn của truyện ngắn: “Người đàn ông đã cố tình quên chị. Nói cho đúng, y là khối thuốc súng, nhờ chị làm mồi lửa mà bùng cháy, chói sáng, rồi tự huyễn hoặc mình trong hào quang tự kỷ. Và chị trước sau vẫn một tấm lòng rộng lượng, một tinh thần hỉ xả, một niềm đam mê bền bỉ như một thiên tính trời ban riêng cho đàn bà”. 

Nhưng, nếu chỉ có như thế, gần như đồng nghĩa với việc Tươi sẽ chỉ tồn tại như một phiên bản khác, một trích lục từ mẫu hình người đàn bà của đạo lý truyền thống: lấy chồng rồi là chỉ biết có chồng, hoàn toàn thụ động trước chồng, có bị chồng ruồng bỏ cũng cắn răng mà chịu đựng. Cần phải trở lại với vài trang truyện ngắn trước đó, khi người kể chuyện cho biết rằng mỗi ngày, vào lúc 5 giờ chiều, Tươi lại mất một lượng thời gian để đứng trước cửa căn nhà cũ, chìm trong mộng mị ký ức tại hai vợ chồng đã từng có những ngày tháng hạnh phúc. 

“Theo thói quen đã định hình, đó là giờ trở về tổ ấm của gia súc và con người”, người kể chuyện bình luận. Nhưng, cũng có thể cho rằng, đó là giờ cầu nguyện của tín đồ, bất di bất dịch. Tươi là một tín đồ. Căn nhà cũ kia là một giáo đường. Và tôn giáo bao chứa hai yếu tố cấu thành ấy, là tình yêu. 

Kiểu tình yêu tự đồng nhất với cái đẹp, với sự hoàn thiện, với tính toàn vẹn của tinh thần. Kiểu tình yêu ấy sẽ còn lặp lại với ít nhiều sửa đổi về chi tiết ở vài người đàn bà khác trong truyện ngắn Ma Văn Kháng, như cô Nhiên trong “Nhiên, nghệ sĩ múa”, người vợ của kịch tác gia Quang Nhã trong “Nợ đời” v.v... 

Những người đàn bà ấy đều đẹp, đều đầy sức hấp dẫn nhưng họ cũng đều hiện diện nguyên vẹn như những người chỉ sống với và sống cho một tình yêu duy nhất trong đời. 

Người vợ của kịch tác gia Quang Nhã không quản ngại tâm sức và thời gian, kiên trì với một nỗ lực tột bậc, chạy hết cửa nọ cửa kia kêu cầu sao cho tác phẩm của chồng mình thoát khỏi sự dìm dập, được dàn dựng, được công diễn. Chị đấu tranh trong một trạng thái, như lời nhân vật người kể chuyện bình luận: “tuẫn nạn bạo liệt”. Bởi yêu chồng. Và còn bởi một tinh thần công chính được chiết xuất từ bản thân tình yêu ấy: “Không thể để tài năng bị giết chết!”. 

Cô Nhiên trong truyện “Nhiên, nghệ sĩ múa” đẹp đẽ, nhân hậu, thông minh khéo léo là thế, vậy mà luôn lạnh lùng sập cửa trước mọi sự ve vãn tán tỉnh, mọi mật đường cám dỗ của những người đàn ông, để rồi đến lúc luống tuổi vẫn chưa hề được thực hiện thiên chức đàn bà là làm vợ, làm mẹ. Ấy bởi Nhiên hằng ôm trong mình hình ảnh của mối tình duy nhất, niềm hy vọng và sự đau đáu chờ đợi người yêu trở về. 

“Nàng vô cảm trước mọi quyến rũ, vì đã quá mải mê và linh hồn đã đắm đuối đến kiệt lực” - người kể chuyện đã đứng ra để giải thích cho người đọc về trường hợp của Nhiên. Cả Nhiên và người vợ của kịch tác gia Quang Nhã, ở những người đàn bà ấy, tình yêu đã được/bị đẩy qua cái ngưỡng yêu đương nam nữ thông thường của “cõi người ta”, họ tự biến mình thành lễ vật đặt dưới bệ thờ tình yêu, họ siêu thăng trong một ý hướng tận hiến. 

Cho dẫu kết cục của họ đều không may mắn - Nhiên bị hủy hoại nhan sắc vì một trận đòn ghen vô cớ, người vợ kia phải vài lần thất thân để tác phẩm của chồng được công nhận - nhưng mặc lòng, họ vẫn cứ là những người đàn bà hạnh phúc vì đã được tận hiến cho tôn giáo của mình. 

Và điều này, ở cường lực tình cảm mãnh liệt của nó, cũng khiến cho những người đàn bà trong truyện ngắn Ma Văn Kháng không có gì chung hết với những cái khung khổ “tam tòng tứ đức” hay “giỏi việc nước, đảm việc nhà”.

Truyện ngắn Ma Văn Kháng (ngẫu nhiên hay có chủ ý?) hình thành nên cả một thế giới đàn bà phồn tạp. Hai kiểu đàn bà tương ứng với hai cái nhìn-và-thấy này của ông chỉ là một phần trong thế giới ấy. Nhưng, cũng chỉ cần thế thôi, nhà văn đã hé ra được khá nhiều kẽ ngách để nhận diện và hiểu thêm về những vấn đề của con người - con người nói chung - trong dòng chảy cuộc sống ồ ạt hôm nay.

Nam Hoài nguyễn

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?