Chuyện như đùa của những thân phận con lai lính thợ thế hệ đầu tiên

Trong đại chiến thế giới thứ hai, nước Pháp khủng hoảng về nhân lực và suy yếu về kinh tế. Để cứu vãn tình thế, vào năm 1939-1940, Pháp đã mộ phu ở Đông Dương.

Mộ phu, thực chất là bắt phu. Mỗi gia đình phải có một đinh (trai tráng) tham gia. Nhà nào có tiền thì thuê người khác đi thế chân. 20 nghìn nông dân nghèo gốc Việt bị xuống tàu biển để sang cứu “mẫu quốc”.

Họ bị đối xử bất công và bóc lột thậm tệ. Chính quyền Pháp xếp họ là loại “lao động chân tay người bản địa” (Main dœuvres dIndigène, viết tắt là M.O.I”. MOI trở thành từ ngữ mà người Pháp dùng để chỉ người lao động không chuyên nghiệp gốc từ thuộc địa.

Dần dần, chữ “mọi” và “nhà quê”  là cách gọi khinh miệt đối với dân thuộc địa Đông Dương (một sự trùng lặp phát âm, chữ “mọi” trong tiếng Việt để chỉ người dân tộc chưa văn minh, hoang dại; và người Pháp cũng dùng từ “mọi” để chỉ dân lao động xuất thân nông dân, bản xứ với sự khinh miệt người Việt).

Khi sang Pháp, lính thợ được đưa tạm sống trong nhà tù mới xây, để chờ phân đi các nơi. Họ bị đeo biển số, lăn tay như tội phạm. Họ không được hưởng lương lao động như người Pháp. Sự bình đẳng giữa người dân thuộc địa và người Pháp là ảo tưởng. Họ sinh ra trong thuộc địa Pháp, nhưng chính quyền Pháp không bao giờ coi họ là người Pháp.

Chính quyền thuộc địa luôn nói khẩu hiệu “Bình đẳng, tự do và bác ái”, và kêu gọi họ sang Pháp lao động với khẩu hiệu mị dân “Vì Tổ quốc Pháp, mẫu quốc đang gian nguy, đi cứu nước”. Giấy khai thông hành thời đó cấp cho họ cũng chứng minh sự phân biệt chủng tộc.

Trên tờ giấy bắt khai: “giống gì” (Race = từ chỉ giống súc vật, giống da trắng, da vàng, da đen…). Trên giấy ghi “giống: AnnamiteNam kỳ”. Annamite cũng là từ chỉ người Việt với ý coi thường. Họ bị đưa vào các nhà máy chế tạo thuốc súng, vũ khí, và hầm mỏ - những nơi làm việc trong điều kiện rất khắc nghiệt, nguy hiểm, độc hại.

Hậu duệ nông dân Việt ở Pháp (1939-1948) tại nhà Carasco Michèle Béti.
Hậu duệ nông dân Việt ở Pháp (1939-1948) tại nhà Carasco Michèle Béti.

Họ “được” trả lương rẻ mạt, chỗ ở tồi tàn không có trợ cấp theo quy định cho người lao động Pháp thời đó. Chủ còn cắt phần lương của họ với lý do nhân đạo giả hiệu “tiết kiệm cho họ, sau về quê sẽ có một khoản lớn”. Thực chất, số tiền lớn này họ không bao giờ nhận được. Trong số người lao động đó, 500 người nông dân Việt bị đến vùng Camargue trồng thử lúa, cải tạo đất. Họ phải ngủ trong lều tôn xây tạm giữa mùa đông băng giá.

Vốn không thạo ngôn ngữ, bản chất hiền lành, nhút nhát, nông dân Việt Nam không dám than phiền và không dám đấu tranh, nên càng bị chủ bóc lột. Một số người chịu không nổi cực khổ đã “đào ngũ” và bị bắt lại. Tần tảo chịu đựng gian khổ, có kinh nghiệm của cha ông lấn biển và trồng lúa nước, nông dân Việt đã biến vùng đất lợ hoang vu nơi đây thành vựa lúa trù phú, nổi tiếng nước Pháp ngày nay.

Khi tình hình Đông Dương xáo trộn lớn, lo sợ đội quân này sẽ là lực lượng ủng hộ Việt Minh, lôi kéo nhiều người Pháp tiến bộ yêu hòa bình, Chính phủ Pháp bèn đưa họ trở về Đông Dương. Hơn 17 nghìn người độc thân trở về không được lĩnh trợ cấp “cất hộ” như đã hứa.

Những người có gia đình, kết hôn với người Pháp nằm danh sách về sau. Chính quyền Pháp nghĩ rằng: những gia đình này không đáng lo ngại vì vợ người Pháp. Nhiều người xin ở lại vì không được phép đưa vợ con về theo. Nếu gia đình nào muốn về, phải tự túc vé. Bị bóc lột thậm tệ, vợ hầu như không nghề nghiệp chỉ ở nhà chăm lo con cái, họ không thể có tiền mua vé tàu cho chính họ, nói gì đến chuyện mua vé cho cả gia đình.

Chính quyền Pháp có lý khi đưa đại đa số lao động này trở về, nhưng đã nhầm tưởng người ở lại sẽ là những người đã quên Tổ quốc, vì kết hôn với người Pháp. Chính phủ Pháp lúc đó lo sợ người nông dân Việt nổi giận đứng lên biểu tình đòi giải phóng thuộc địa ngay trên đất Pháp. Pháp đã không nhầm.

Năm 1945, khi nghe tin Việt Nam giành độc lập, lính thợ ở lại đã khóc và tham gia biểu tình giương cao lá cờ đỏ sao vàng công khai ủng hộ Việt Minh và Hồ Chí Minh. Nhiều người bị bắt và nhà bị lục soát. Mật vụ Pháp luôn theo dõi hoạt động của những người lao động Việt yêu nước này.

Những người lao động Đông Dương tham gia biểu tình ở trại Mazargues, à Marseille, 1948.
Những người lao động Đông Dương tham gia biểu tình ở trại  Mazargues, à Marseille, 1948.

Sau Thế chiến hai, Chính phủ Pháp lại phải đương đầu với chiến tranh Đông Dương. Pháp tưởng dễ dàng lấy lại thuộc địa như từng lấy ba tỉnh Việt Nam, và bình định Việt Nam nhanh chóng trong thời gian ngắn. Tình hình Đông Dương trở nên căng thẳng. Chuyện hồi hương của số người còn lại bị rơi vào lãng quên.

Những lao động Việt kết hôn với phụ nữ Pháp gặp nhiều trở ngại về giấy tờ hành chính. Những đứa con lai Việt (gần như là thế hệ lai Việt đầu tiên) đến trường gặp vấn đề, như trường hợp của anh Quách Dominique, bị từ chối vì bố mang quốc tịch Việt Nam dù anh đã thi đỗ.

Theo luật pháp, bố Việt thì nghiễm nhiên các con đều là người Việt. Hậu duệ người lao động này đều nói tiếng Pháp vì là tiếng mẹ đẻ, đồng thời họ sinh ra lớn lên trên đất Pháp.

Hầu như chẳng ai nói được tiếng Việt, ngay cả phát âm tên cha mẹ, tên của chính họ bằng tiếng Việt, tên làng quê tổ tiên ông cha cũng đọc ngọng nghịu do dấu tiếng Việt. Thật bất công, những người sinh vào năm 1945-1948, không được phép mang tên Việt. Tòa thị chính Pháp không cấp giấy khai sinh với tên Việt, cũng không thừa nhận họ là người Pháp.

Sau chiến tranh Đông Dương, Chính phủ Việt Nam non trẻ phải đương đầu với tình hình chia cắt đất nước. Vì tương lai con cái, nhiều người lao động ở lại phân vân đau khổ khi phải đổi quốc tịch, do sự hồi hương càng ngày càng vô vọng như cha của Ngô Thị Huệ, Michèle...

Tuy làm việc cho Pháp trung thành và đi “phụng sự cho Tổ quốc Pháp lâm nguy”, kết hôn với phụ nữ Pháp, song một số người bị từ chối nhập quốc tịch Pháp với lý do “thân Việt Minh và tàng trữ ảnh Hồ Chí Minh” như trường hợp ông Vũ Văn Đối, cha của chị Danielle.

Tôi nhớ trong sách giáo khoa được học lúc nhỏ có bài thơ với mấy câu sau: “...Trong buôn đồng bào Thượng/ Một sớm lũ Tây vào/ Ảnh cụ Hồ để đâu/ Đem nộp ngay ra hết/ Bà cụ vào trong bếp/ Lấy hũ muối đem ra/ Để ngay ngắn giữa nhà/ Ảnh cụ Hồ tôi đấy..." nói lên sự biết ơn của đồng bào dân tộc Tây Nguyên với Hồ Chí Minh...

Lính thợ Việt đeo biển số và lăn tay như tội phạm in trên giấy thông hành.

Lính thợ Việt đeo biển số và lăn tay như tội phạm in trên giấy thông hành.

Thời đó, phong trào Việt Minh đang lan rộng,  thực dân Pháp đến lục soát nhà người Thượng nghi che giấu Việt Minh. Cờ đỏ sao vàng và ảnh Hồ Chí Minh là tang chứng ủng hộ Việt Minh sẽ bị bắt. Bài thơ tưởng là bài tuyên truyền cho Việt Minh, chỉ xảy ra ở Việt Nam, hóa ra chuyện này là sự thật xảy ra ngay trên đất Pháp nổi tiếng “tự do”.

Sau khi Việt Nam thống nhất, Pháp và Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao trên danh nghĩa hai quốc gia độc lập. Hậu duệ những nông dân Việt bị cưỡng bức đi lao động tự sự chuyện khám nhà và tang chứng tàng trữ ảnh Hồ Chí Minh cứ như chuyện đùa.

Vì 30 năm sau, ngay trên đất Pháp, có năm con đường vinh danh mang tên Hồ Chí Minh (ở Givors, Lanester, Vaulx-en-Velin, Vénissieux) và hai con đường ở đảo Réunion thuộc Pháp. Ngay thành phố vệ tinh Montreuil, ngoại ô Paris, trong công viên Montreau, có dựng tượng Hồ Chí Minh.

Tại Lyon, thành phố lớn thứ 2 nước Pháp có đường Hồ Chí Minh, Hà Nội. Hơn 200 phố của Pháp mang tên các địa danh Việt Nam như: Hà Nội, Sài Gòn, Mê-kông, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Cao Bằng, Sơn Tây, Đống Đa, Bắc Kỳ… Vua Duy Tân (tức hoàng tử Vĩnh San) từng bị đi đày, vì không hợp tác với thực dân Pháp, nay cũng có hai phố và cầu ở đảo Réunion mang tên ông.

Độc lập và những tên phố liên quan đến Việt Nam trên đất Pháp ngày nay đã phải đổi bằng biết bao máu, nước mắt và sự hy sinh của người Việt. Sự ủng hộ Việt Minh lúc đó của lao động Việt ở Pháp là vô cùng quý giá.

Bất chấp thua thiệt, lực lượng lính thợ Việt đã góp phần thu hút người Pháp tiến bộ tham gia ủng hộ bài trừ thực dân, tham gia đấu tranh cho hòa bình ở Đông Dương và sự ủng hộ ấy là tình yêu mà tôi đã thấy qua những người con của lớp lính thợ (nay gần như đã chết hết). Thế hệ con lai đầu tiên đã làm ông bà, dù con cháu họ không biết tiếng Việt, nhưng họ không cho phép chúng quên: cơ thể chúng có mang dòng máu Việt Nam.

Trần Thu Dung

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?