Chuyện ít biết về những “công nhân khoa học” lang thang

Trong mắt người Việt nói chung, K. là một hình mẫu thành đạt lý tưởng: là nhà khoa học làm việc cả 10 năm tại viện nghiên cứu ở một nước tiên tiến; có các công trình đăng tạp chí hàng đầu, vợ đẹp, con xinh; có thẻ cư trú dài hạn tại nước ngoài... Nhưng bản thân K. thì không nghĩ thế…

Tốt nghiệp tiến sĩ về quản trị kinh doanh tại Đại học Văn hóa Trung Hoa, Đài Loan, năm 2017. Hướng nghiên cứu của TS. Hiệp bao gồm: thương mại hóa trong giáo dục, đo lường khoa học...

Bên cạnh kinh nghiệm nghiên cứu, TS. Hiệp còn là một cây viết thường xuyên xuất hiện trong các báo, tạp chí trong và ngoài nước về các vấn đề khoa học và giáo dục. Năm 2013, TS. Hiệp đã từng nhận giải khuyến khích Giải thưởng Báo chí dành cho các nước đang phát triển tại châu Á (DAJA), do Viện Nghiên cứu thuộc Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB).

1. Tôi vừa gặp và ăn tối với K. nhân dịp anh tranh thủ về thăm nhà sau khi kết thúc hợp đồng tại một viện nghiên cứu uy tín ở một nước phát triển và chuẩn bị lên đường sang một nước phát triển khác để đảm nhận công việc mới, cũng trong môi trường học thuật. 

K. là một cựu học sinh giỏi quốc gia, một sinh viên xuất sắc ngành kỹ thuật tại một đại học lớn trong nước.

Sau khi tốt nghiệp đại học, K. giành học bổng thạc sĩ, rồi tiến sĩ tại nước ngoài, ở lại làm việc gần 10 năm cho đến tận bây giờ. Hành trang của một nhà khoa học đang ở độ tuổi chín nhất của sự nghiệp (K. gần 40 tuổi) là gần 20 bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học hàng đầu thế giới của ngành mà nếu ở Việt Nam, có lẽ, anh đã trở thành nhân vật của truyền thông. 

Nhưng K. nói với tôi, tài sản quý nhất của anh không phải là mấy công trình khoa học kia mà là gia đình với người vợ hiền và 2 đứa con nhỏ.

Tôi vô cùng thán phục vợ K., một cô gái Hà Nội, vốn có công việc rất tốt ở Việt Nam đã chấp nhận bỏ tất cả sự nghiệp, bố mẹ, để theo chồng, một chàng trai tỉnh lẻ, chả có gì đặc biệt ngoài tình yêu khoa học vô bờ bến, lang thang đất khách hơn 10 năm, để chấp nhận làm “bà nội trợ”, làm “hậu phương” cho chồng tập trung nghiên cứu.

2. Trong mắt người Việt nói chung, K. là một hình mẫu thành đạt lý tưởng: là nhà khoa học làm việc cả 10 năm tại viện nghiên cứu ở một nước tiên tiến; có các công trình đăng tại tạp chí hàng đầu, vợ đẹp, con xinh; có thẻ cư trú dài hạn tại nước ngoài...

Nhưng bản thân K. thì không nghĩ thế, suốt bữa ăn, anh thể hiện rõ là mình đang rất băn khoăn: băn khoăn về công việc sắp tới, băn khoăn về sự tiếp tục hy sinh của vợ, băn khoăn về việc 2 đứa con lại phải thích nghi với môi trường mới và nhất là băn khoăn liệu có nên về Việt Nam sinh sống trong tương lai không?

Cánh cửa biên chế đang đóng dần với những tiến sỹ trên toàn thế giới.
Cánh cửa biên chế đang đóng dần với những tiến sỹ trên toàn thế giới.

3. Mặc dù là người khác ngành nhưng cũng là người nghiên cứu, đặc biệt lại chuyên nghiên cứu về giáo dục đại học (tức là có thể nói K. là đối tượng nghiên cứu của tôi), tôi hoàn toàn thấu hiểu sự băn khoăn của anh. K. không nói ra nhưng tôi đoán, việc anh bất ngờ gọi tôi ra gặp riêng cũng là để chia sẻ băn khoăn của mình và chờ đợi từ tôi những góp ý.

Trong thâm tâm tôi nhận định, việc chuyển nước làm việc lần này của K. có phần là bước “đi ngang” hoặc “thụt lùi” cho sự nghiệp của anh. Với tiềm lực chuyên môn như vậy (tôi biết K. rất xuất sắc), đáng ra anh đã tìm được một vị trí biên chế chính thức tại viện cũ của anh. 

Nhiều người có hồ sơ khoa học không bằng đã làm được điều trên. Còn K., có thể do không may mắn hoặc vì một lý do nào đó, đã không làm được.

4. Có một biên chế chính thức và thường là kèm theo việc bổ nhiệm chức danh phó giáo sư, là ước mong của rất nhiều nhà khoa học trẻ trên thế giới. 

Điều này đặc biệt khó khăn trong điều kiện hiện nay tại bối cảnh mà thị trường nhân lực khoa học, cầu (từ phía các trường đại học, viện nghiên cứu) đang ít hơn nhiều so với cung (số lượng tiến sĩ mới tốt nghiệp).

Chính phủ nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển đều đang triệt để áp dụng các kế hoạch thắt chặt chi tiêu, giảm đầu tư cho giáo dục đại học. Biên chế, điều kiện tiên quyết để nhà khoa học có thể yên tâm công tác, trở thành điều vô cùng xa xỉ.

Một bài báo trên Life Science Network cho thấy hiện nay ở Đức, chỉ có khoảng 6% người có bằng tiến sĩ có thể kiếm được việc dài hạn (biên chế); con số tương ứng tại Bỉ còn tệ hơn, chỉ là 3%. Những con số này là quá khiêm tốn so với tỷ lệ tương ứng cách đây 30-40 năm (khoảng 41%).

5. Luật chơi của thế giới khoa học còn khốc liệt ở chỗ, với những người không thể vào được biên chế, nguy cơ cao là họ sẽ phải đổi chỗ làm việc liên tục. Các hợp đồng thường chỉ kéo dài 1-2 năm và khi hết hợp đồng, Khoa/Viện không còn ngân sách thì nhà khoa học buộc phải chuyển chỗ làm.

Tại một số nơi, chính sách còn khắt khe đến mức, các trường yêu cầu một nhà khoa học chỉ được ký tối đa 2 hợp đồng ngắn hạn (thường tương đương khoảng 2-6 năm); sau đó, nếu không vào được biên chế thì sẽ buộc phải chuyển đi chỗ khác ngay cả khi Khoa/Viện có ngân sách. 

Nguyên nhân là bởi, trong trường hợp này, người ta muốn tạo cơ hội cho nhiều người khác nhau. Những người như K., giới nghiên cứu về giáo dục chúng tôi gọi là: “những công nhân khoa học lang thang” (contingent academic workers).

Gọi là “lang thang” là bởi họ liên tục phải chuyển công tác giữa trường này đến trường khác, giữa nước này đến nước khác. Gọi họ là “công nhân khoa học” là vì thay vì “nhà khoa học” là bởi chức danh chuyên môn của họ chỉ là hậu tiến sĩ (post-doc) hay nghiên cứu viên (research fellow), tức là những vị trí khiêm tốn, thường là phải làm thuê cho một giáo sư nào đó và hẳn nhiên chưa có dự án nghiên cứu lớn do mình chủ trì. 

6. Tôi nói với K. “anh vẫn may mắn chán vì anh còn có vợ con đi theo”. K. đồng ý và kể về một câu chuyện anh mới đọc được trên báo về một cặp mà cả vợ và chồng đều là các “công nhân khoa học lang thang”. 

Cặp đôi này lấy nhau 10 năm nhưng hầu như chỉ được ở với nhau những dịp nghỉ lễ bởi mỗi người ở một thành phố khác nhau. Và đến giờ thì họ vẫn chưa có con. Nhưng suy cho cùng thì cặp đôi đó cũng vẫn may mắn hơn nhiều người khác, bởi họ đồng cảnh ngộ và thông cảm cho nhau.

Trường hợp của một “công nhân khoa học lang thang” được giáo sư Jonathan Katz (Đại học Washington, Mỹ), thuật lại cách đây hơn 10 năm cho thấy, anh thậm chí đã bị vợ (một người làm ngành khác và muốn ổn định) bỏ chỉ vì phải lang thang theo anh quá nhiều nơi. 

Nhưng xét kỹ hơn, có lẽ anh “công nhân khoa học” bị vợ bỏ này vẫn chưa phải trường hợp bi kịch nhất nếu so với câu chuyện một tiến sĩ người Singapore, tốt nghiệp đại học hàng đầu ở Mỹ, đã đi làm post-doc vài năm, rốt cuộc không kiếm được việc và chấp nhận về quê hành nghề lái taxi.

7. K. và một số “công nhân khoa học lang thang” là những người nhất quyết “bám” vào các trường đại học tên tuổi và các nước phát triển. Một nhóm khác thì lựa chọn các nước mới nổi làm điểm đến. 

Ví dụ, đã có rất nhiều nhà khoa học phương Tây chọn các nước Trung Đông (như Qatar hay UAE) là điểm đến khi các nước này đẩy mạnh phát triển giáo dục đại học và đầu tư lớn cho khoa học - công nghệ.

Tại các nước này, ngay cả khi không kiếm được biên chế, các “công nhân khoa học” này ít nhất cũng còn có được một cái lợi là mức lương hậu hĩnh hơn là ở các nước phát triển. 

Một nhóm khác thì đành chấp nhận đổi nghề; tất nhiên vẫn là những nghề lao động trí óc như kỹ sư (đối với những người thuộc ngành kỹ thuật) hay quản lý (đối với những người thuộc ngành quản lý, kinh doanh, kinh tế...).

Cũng theo bài báo trên Live Science Network, thống kê tại Vương quốc Anh cho thấy, có đến 95% người có bằng tiến sĩ tại các ngành STEM (Khoa học, Công nghệ, Kỹ thuật và Toán) không làm việc tiếp ở các trường/viện nghiên cứu, mà chuyển sang khu vực công nghiệp/tư nhân - nơi thường chỉ yêu cầu trình độ cử nhân hoặc thạc sỹ.

Trong thế giới khoa học, những người không thể vào được biên chế, thường phải đổi chỗ làm việc liên tục.
Trong thế giới khoa học, những người không thể vào được biên chế, thường phải đổi chỗ làm việc liên tục.

8. Quay trở lại với K., tôi thực sự bất ngờ khi anh nói sắp tới, lương đi làm của anh, trừ thuế, trừ thuê nhà, chi tiêu cả gia đình 4 người thì mỗi tháng anh sẽ tiết kiệm được khoảng 300-500 euro. Khoản tiền đó thực sự là không nhiều và sẽ khiến anh không dám về thăm Việt Nam thường xuyên trong giai đoạn sắp tới.

Tôi gợi ý: “Hay là anh tìm cách về Việt Nam. Điều kiện làm việc ở Việt Nam giờ cũng tốt hơn rồi. K. ngập ngừng nói: “Còn vợ, còn bọn nhỏ thì sao?”. 

Quả thực, đây là vấn đề khó! Anh có thể về làm việc và hòa nhập với cuộc sống tại Việt Nam nhưng vợ anh, như đã nói ở trên, làm bà nội trợ quá lâu, khó bắt nhịp lại cuộc sống ngay trên quê hương. 

Còn con anh - 2 Việt kiều với vốn tiếng Việt lơ lớ - làm sao có thể hòa nhập với nền giáo dục trong nước, hoàn toàn khác với những gì chúng đã được hưởng những năm qua (tôi biết K. sẽ không đủ kinh tế để gửi con học trường quốc tế ở Việt Nam).

Nghĩ đến đây, tôi lại nhớ đến lời giáo sư Teresa Ju, một người Mỹ, gốc Đài (sau gần 30 năm sinh sống ở Mỹ, quyết định về lại Đài Loan từ giữa những năm 2000). 

Là người sang Việt Nam làm việc nhiều lần, giáo sư Ju có lần nhận xét làm tôi kinh ngạc “các bạn có quá nhiều chương trình trải thảm đỏ mời nhân tài không để làm gì cả”.

Theo giáo sư Ju, kinh nghiệm của Đài Loan là cứ phát triển kinh tế thật tốt, xã hội thật văn minh thì người tài, bao gồm cả kiều bào lẫn người nước ngoài sẽ tự khắc trở về làm việc. Đối chiếu với trường hợp của K., tôi mới hiểu là giáo sư Ju nói đúng. 

Có thể Việt Nam sẽ có một vài chương trình đặc biệt, một dự án đặc biệt mời được K. về nhưng xã hội Việt Nam, lối sống Việt Nam liệu có dang tay đón chào vợ con anh?

9.Năm nay K. đã gần 40 tuổi, hết thúc hợp đồng tại nơi anh sắp sang làm việc, khi đó anh sẽ khoảng ngoài 42 hay 44 tuổi gì đó. Tôi không dám chắc là khi đó anh sẽ kiếm được công việc biên chế để được ổn định ở nước ngoài hay không. 

K. là đại diện tiêu biểu của một nhóm người làm việc trong giới hàn lâm, chưa đủ giỏi để trở thành phó giáo sư, giáo sư có biên chế ở nước ngoài nhưng cũng không quá kém để buộc phải về nước luôn sau khi học xong tiến sĩ (như tôi chẳng hạn).

Tôi hỏi “lang thang mãi thế, anh có nản không?”. Anh trả lời “đến đời con tớ sẽ hết cảnh này”.

K. nói đúng, dù sao 2 đứa nhỏ của anh, ít nhất đã có quốc tịch nước ngoài và sẽ không khó để tiếp cận môi trường giáo dục tốt trên thế giới - điều mà con tôi (vả cả gia đình tôi nữa) sẽ phải “chiến đấu” cật lực nếu muốn đạt được điều tương tự.

Phạm Hiệp

Các tin khác

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Kỳ 3: Toán Castor và chuyên án PY27

Hơn một tháng sau khi điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares xâm nhập miền Bắc bằng đường biển, CIA và Liên đoàn 77 quyết định cho toán gián điệp biệt kích mang biệt danh Castor nhảy dù xuống tỉnh Sơn La. Nhiệm vụ của toán là thu thập tin tức tình báo về hoạt động chuyển quân của Quân đội miền Bắc trên Quốc lộ 6 - con đường chính xuyên qua các tỉnh Tây Bắc đến Tây Nam tỉnh Sầm Nưa (Lào). Tuy nhiên, chỉ 3 ngày sau, cả 4 thành viên đều bị bắt, mở ra chuyên án PY27 của Công an miền Bắc.

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Thụy Sỹ tạm tránh được “khoảnh khắc Brexit” của riêng mình

Ngày 14/6, hơn 59% cử tri Thụy Sĩ đi bỏ phiếu cho cuộc trưng cầu dân ý về đề xuất giới hạn dân số ở mức 10 triệu người vào năm 2050. Gần 55% phản đối, 45% ủng hộ - khoảng cách đủ để ngăn một cuộc va chạm có thể định hình lại quan hệ giữa Bern và Brussels trong nhiều thập niên tới nhưng vẫn còn những bất đồng.

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Cuộc chia tay với vị trí trung tâm

Một buổi chiều cuối tháng 5/2026, trên mạng xã hội xuất hiện hàng loạt dòng trạng thái của các nhà báo kỳ cựu. Có người chia sẻ lại hình ảnh những tòa soạn từng gắn bó nhiều năm, có người nhắc tên những tờ báo đã trở thành một phần ký ức của đô thị Sài Gòn, cũng có người chỉ lặng lẽ đăng một dấu chấm lửng. Những chia sẻ ngắn ngủi ấy phản ánh tâm trạng của những người đang chứng kiến một bước chuyển quan trọng của báo chí thành phố trong tiến trình sắp xếp, tinh gọn hệ thống cơ quan báo chí.

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Vài nghịch lý trong báo chí hiện đại

Trong suốt thời gian vừa qua, báo chí đã trở thành một trong những tâm điểm quan tâm của xã hội. Đầu tiên là câu chuyện sắp xếp lại các cơ quan báo, đài, truyền hình ở các địa phương. Sau đó là những thông tin về việc sẽ xử lý các vi phạm sở hữu trí tuệ trong lĩnh vực báo chí mà điển hình nhất là việc chia sẻ lại các sản phẩm báo chí trên mạng xã hội. Trước đó không lâu, chuyện “báo chí hóa mạng xã hội” cũng đã từng được nhắc tới không ít lần. Tất cả đều cho thấy đang có một dịch chuyển mang tính bước ngoặt đối với báo chí hiện đại Việt Nam hôm nay.

Sợi chỉ vô hình

Sợi chỉ vô hình

Khoảng 5 năm trước, khi bước vào ngôi nhà của một nhân vật cần khai thác cho bài báo dài của mình về chuyên đề biến đổi khí hậu, tôi không nghĩ rằng mình sẽ ám ảnh cho đến tận bây giờ.

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Kỳ 2: Điệp viên Ares và Chuyên án BK63

Tháng 4/1961, sau khi huấn luyện kỹ lưỡng, điệp viên đơn tuyến Phạm Chuyên, bí danh Ares, xâm nhập miền Bắc Việt Nam bằng đường biển, mở màn chiến dịch của CIA đưa gián điệp biệt kích phá hoại miền Bắc. Theo kế hoạch, sau khoảng 1 đến 2 năm, khi đã gây dựng được cơ sở vững và guồng máy hoạt động tốt, Phạm Chuyên có thể chọn người thay thế và trở lại miền Nam. Trong trường hợp bị lộ, Chuyên rút vào rừng trốn, chờ Trung tâm đưa tàu ra đón bằng đường biển…
Nhưng Phạm Chuyên không ngờ mình lại trở thành nhân vật chính trong một chuyên án vô tiền khoáng hậu của lực lượng Công an miền Bắc.

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Tôi tin Việt Nam sẽ xây dựng được một ngành công nghiệp điện ảnh thành công

Michael L. Gray là một người viết đã 30 năm gắn bó với Việt Nam, đang hoạt động trong lĩnh vực điện ảnh, hiện tham gia nhiều dự án cùng các hãng phim và nhà sản xuất tại TP Hồ Chí Minh. Với khán giả điện ảnh Việt Nam, Michael được biết tới qua bút danh Anh Mai, đồng biên kịch phim “Long Ruồi” – bộ phim hài hành động do Charlie Nguyễn đạo diễn, từng trở thành hiện tượng phòng vé năm 2011. Michael hiện đang hoàn thành một tập truyện ngắn bằng tiếng Việt và đồng thời tham gia phát triển nhiều dự án điện ảnh mới.
Trong cuộc trò chuyện với CTV Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng, Michael L. Gray nói nhiều tới cấu trúc kịch bản điện ảnh và tương lai của điện ảnh Việt Nam trên bản đồ thế giới.

Khi yêu thương biến thành thù hận

Khi yêu thương biến thành thù hận

Đầu năm 2026, liên tiếp các vụ án mạng do ghen tuông, mâu thuẫn tình cảm xảy ra tại Tuyên Quang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Nghệ An… để lại nhiều bi kịch đau lòng. Từ những xung đột tưởng chừng rất nhỏ, nhiều người đã trượt dài trong cơn cuồng ghen, biến yêu thương thành tội ác.

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Làm sao có thể “Ta là một, là riêng, là thứ nhất”?

Muốn xuất bản một chương trình âm nhạc nghiêm túc, ít nhất riêng phần nhạc cần thuê nhạc sĩ phối khí, dàn nhạc giao hưởng, ban nhạc nhẹ, dàn nhạc dân tộc, ca sĩ, hợp xướng, thu âm, hậu kỳ. Nhìn cấu hình, có thể áng được tiền tỷ theo nhân lực. Dàn nhạc nhẹ có thể chỉ từ 5-10 nhạc công nhưng dàn giao hưởng thì ít cũng khoảng 80 người. Nếu cứ thế thì làng nhạc làm không hết việc. Nhưng, công nghệ đã làm thay đổi tất cả...

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

Nhạc sĩ trước “đôi thủ” AI

AI (trí tuệ nhân tạo) ngày càng ảnh hưởng sâu rộng tới mọi mặt của đời sống. Trong sáng tác âm nhạc, AI đang tạo ra những thay đổi mạnh mẽ, từ hỗ trợ nhạc sĩ viết giai điệu đến hòa âm phối khí, thể hiện tác phẩm. AI là một “cộng sự” đắc lực hay mang đến những thách thức với người làm âm nhạc và đâu là dấu ấn cá nhân trong thời đại công nghệ lên ngôi là những vấn đề nhiều người băn khoăn...

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Những băn khoăn trước nguy cơ di tích văn hóa Sa Huỳnh bị biến dạng

Hơn một thế kỷ nay, kể từ khi được phát hiện năm 1909, văn hóa Sa Huỳnh nói chung và di tích quốc gia đặc biệt Văn hóa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) nói riêng được các chuyên gia trong và ngoài nước đánh giá là một "trầm tích lịch sử sống". Hiện di tích khảo cổ Văn hóa Sa Huỳnh đang hướng tới là Di sản văn hóa thế giới.

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Các chuyên gia nói gì về “khu đất vàng” 19 Lê Thánh Tông?

Đề xuất di dời Trường Đại học Dược Hà Nội, Khoa Hóa học (Đại học Khoa học tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) để chuyển không gian “Đại học Tổng hợp Hà Nội” tại 19 Lê Thánh Tông thành khu Bảo tàng Đại học thời đại Hồ Chí Minh, là một phương án có trong dự thảo đồ án quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm. Những ngày qua, thông tin này đã trở thành tâm điểm thu hút dư luận với những luồng ý kiến trái chiều...

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

Hành trình hồi hương của những phận người lầm lỡ

“Việc nhẹ, lương cao”, “thế giới tự do”, “không cần lao động vẫn có cuộc sống sung túc, được bảo lãnh đi định cư tại các nước thứ ba như Mỹ, Canada, Australia”... Đó là những lời dụ dỗ khiến một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên tin theo và di cư bất hợp pháp sang Thái Lan mong được “đổi đời”.

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Muôn vẻ sáng tác ca khúc theo “đơn đặt hàng”

Trong đời sống âm nhạc, nhiều tác phẩm ra đời theo “đơn đặt hàng” hay yêu cầu, mong muốn nào đó không phải là điều xa lạ. Nhưng vượt ra khỏi mục tiêu ban đầu, nhiều tác phẩm đã ghi dấu ấn bền vững trong lòng công chúng. Đơn đặt hàng - tưởng chừng là khuôn khổ - lại giống như chiếc khung để nhạc sĩ vẽ lên những bức tranh âm nhạc sống động và nhiều điều thú vị.

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Họa sỹ Trần Đại Thắng: Bước cùng sách từ bờ sông Đà năm ấy

Trần Đại Thắng chưa bao giờ thực sự rời sông Đà. Dòng sông ấy vẫn lững lờ trong từng trang sách anh làm, trong mùi giấy in thoang thoảng, trong cả những đêm khuya anh ngồi viết lại chính đời mình. Từ cậu bé 6 tuổi mê mẩn ngắm những cuốn sách Nga trong một hiệu sách bên kia dòng sông Đà đến người dựng nên Đông A Books, Thắng chỉ làm một việc, giữ cho sách không trở thành một thứ thoáng qua. Cuốn "Tôi kể" dày 500 trang không phải lời kết. Chỉ là một lần nữa, anh lật giở ký ức, để xem tất cả những chi tiết nhỏ bé anh đã dành cả đời chăm chút, liệu có đủ nặng để níu lại một chút gì đó giữa dòng đời đang trôi quá vội.

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Hệ sinh thái web lậu và cá độ phía sau Xôi Lạc TV

Sau gần một thập kỷ hoạt động trên không gian mạng, hệ thống phát sóng bóng đá lậu Xôi Lạc TV vừa bị Cơ quan công an triệt phá, khởi tố hàng chục đối tượng liên quan. Đằng sau những đường link xem bóng đá miễn phí tưởng chừng vô hại là cả một "hệ sinh thái" web lậu vận hành theo kiểu "đầu rắn nhiều thân", gắn chặt với quảng cáo cá cược và dòng tiền ngầm có quy mô lớn.

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Hà Lan mới chỉ dăm ngày

Tôi quyết định làm chuyến “du lịch bụi” đến Hà Lan vào những ngày cuối năm 2025. Với tôi, đây thật sự là chuyến đi đáng nhớ, bởi Hà Lan không chỉ có kênh đào thơ mộng, cối xay gió, cánh đồng hoa Tulip rực rỡ, văn hóa xe đạp độc đáo mà còn là mảnh đất có nhiều điều để khám phá.

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Công nghiệp văn hóa Việt Nam sau những cú hích năm 2025

Năm 2025, lịch sử và âm nhạc cùng lúc tìm được đường trở lại đời sống đương đại. Những bộ phim chiến tranh như "Mưa đỏ" đã lập kỷ lục doanh thu phòng vé với doanh thu trên 700 tỷ đồng; các chương trình Đại nhạc hội quy mô lớn thắp sáng không gian công cộng bằng cảm xúc tập thể, concert "Tổ quốc trong tim" thu hút 50.000 khán giả, Concert "Rạng rỡ Việt Nam" sau vài giờ mở bán đã cháy vé, cho thấy dư địa để phát triển công nghiệp văn hóa rất lớn. Vấn đề là làm thế nào để biến những khoảnh khắc bùng nổ ấy thành một chiến lược phát triển bền vững cho ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam.

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Cuộc đua xe tự lái: Cạnh tranh trong hợp tác ở London

Trong bối cảnh căng thẳng địa chính trị không ngừng leo thang, một mô hình hợp tác độc đáo đang hình thành ngay tại trung tâm châu Âu. Thủ đô London của nước Anh sắp trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới chứng kiến xe tự lái của hai gã khổng lồ công nghệ đến từ Mỹ và Trung Quốc cùng vận hành. Sự hiện diện song hành này không đơn thuần là một cuộc đua công nghệ, mà còn mở ra một lối đi mới, nơi những đối thủ toàn cầu cùng phát triển dưới một khung pháp lý chung, mang đến hy vọng về khả năng phối hợp trong một lĩnh vực then chốt của tương lai.