Ca sĩ Lệ Thu: Chờ hoài nhau trong mơ

Trong số các ca sĩ lừng danh ở hải ngoại, Lệ Thu được đánh giá là "Giọng ca vàng mười", với âm sắc đầy nội lực, bay bổng và sang trọng. Có những ca khúc trở nên độc quyền của Lệ Thu khó ai sánh kịp. Mặc cho duyên kiếp có nhiều trắc trở, Lệ Thu đã vượt lên số phận. Cuộc đời Lệ Thu thật thà đến khờ dại, luôn đánh rơi những gì ngỡ như đã cầm được trên tay...

Những cuộc tình sóng gió trước ngày tha hương

Lệ Thu tên thật là Bùi Thị Oanh, sinh năm 1943 tại Hải Phòng. Cái tên khai sinh này có số phận kỳ lạ. Cô bé Oanh được ông trời ban cho phước lành sống sót sau bảy anh chị em trước đó lần lượt ra đi. Năm 1953, hai mẹ con Oanh dắt díu nhau vào Sài Gòn sinh sống, tại khu chợ Vườn Chuối (Quận 1). Đó là một cuộc chạy trốn số phận của kiếp con thêm, vợ lẽ truân chuyên khổ ải. Nhưng ở mảnh đất mới này, cô bé Bùi Thị Oanh đã trở thành một con người khác khi được học một thầy đàn ở gần nhà. Một năng khiếu âm nhạc bẩm sinh và giọng hát thiên phú được cất cánh.

Đầu năm học lớp 12 (1959), Bùi Thị Oanh đi dự sinh nhật bạn cùng lớp tại phòng trà ca nhạc Bồng Lai. Cô đã bị bạn bè thúc lên hát tặng ngày vui. Oanh lúng túng không biết nên hát bài nào cho hợp nhưng khi ấy những câu hát trong bài "Tà áo xanh" (Đoàn Chuẩn - Từ Linh) bỗng vang lên. Thế là cô cất tiếng hát. Những âm sắc non tơ trong vắt. Nỗi niềm khắc khoải của một cuộc tình chia xa làm tê tái tâm hồn người nghe. Ông chủ phòng trà sửng sốt chăm chú.

Ca sĩ Lệ Thu thời trẻ.
Ca sĩ Lệ Thu thời trẻ.

Ngay lập tức ông đề nghị Bùi Thị Oanh ký hợp đồng biểu diễn thường xuyên. Bùi Thị Oanh vui sướng tột độ và vội lấy nghệ danh Lệ Thu để giấu mẹ lén đi biểu diễn hằng đêm. Cái tên Lệ Thu bật ra như một phản xạ tự nhiên nhưng lại là ẩn ức trong cuộc đời đẫm nước mắt của chính cô. 

Cuộc tình đầu tiên của Lệ Thu với anh chàng phi công thật chóng vánh khi cô mới chớm tuổi 18. Giọng hát của Lệ Thu làm mê mẩn tâm hồn người lính này. Khi kết hôn, chàng phi công mới vỡ lẽ cô ca sĩ của mình thật sự ngây thơ và trong sáng, không hề biết gì về cuộc sống vợ chồng. Lệ Thu chỉ nghe theo mẹ đi lấy chồng với nỗi lo sợ trở thành "bom nổ chậm" của mẹ mà thôi. Một cuộc hôn nhân lạnh lẽo, cưỡng không được, mơ mộng cũng không xong. Gắng gỏi chỉ thêm khổ nhau, thế là hai người chia tay sau 2 tháng kết hôn. 

Cũng từ đây, giọng hát của Lệ Thu ngày càng trở nên sáng giá. Cô hát cho mấy trung tâm ca nhạc và sàn nhảy. Họ tranh giành thời gian với cô. Cái tên Lệ Thu gắn liền với vũ trường Tự Do từ năm (1962), sau đó là vũ trường Queen Be và sàn nhảy Ritz (từ năm 1968 đến 1971). Rồi cô trở thành giọng ca độc quyền thu băng đĩa của hãng Jo Marcel nổi tiếng.

Thời gian này, Lệ Thu nảy sinh cuộc tình mới của một khán giả từ Pháp trở về (1963). Chính những ca khúc tiếng Pháp mà Lệ Thu hát đã cất lên tiếng gọi tình yêu của anh chàng kỹ sư tên Sơn này. Đây là một cuộc tình như mơ của Lệ Thu. Hai người đi đâu cũng có nhau. Họ tiến tới hôn nhân và hai cô con gái xinh đẹp lần lượt chào đời.

Nhưng rồi sự nghiệp ca hát đã cuốn Lệ Thu vào những ngày tháng phiêu du bất tận. Lệ Thu nổi lên như một ngôi sao sáng bên cạnh những giọng hát Khánh Ly, Thái Thanh và Bạch Yến… Danh tiếng càng rực rỡ thì tình cảm gia đình dần dần càng lạnh nhạt vì hai người ít có thời gian bên nhau. Sau bảy năm chung sống, họ ly hôn và hạnh phúc tan vỡ như một sự tất yếu.

Lệ Thu lại dành hết tâm trí mình cho những ca khúc và hết lòng cống hiến cho khán giả. Nói đến Lệ Thu là nói đến những ca khúc làm say đắm lòng người như: "Hoài cảm" (Cung Tiến); "Xin còn gọi tên nhau" (Trường Sa); "Mùa thu chết" (Phạm Duy); "Mười năm tình cũ" (Trần Quảng Nam); "Thu hát cho người" (Vũ Đức Sao Biển); "Nước mắt mùa thu" (Phạm Duy)…

Đặc biệt sau này là album "Sơn Ca 9" (Giọng hát Lệ Thu) được phát hành với số lượng lớn trong năm 1974. Và cũng trong năm tháng này, cuộc tình mới ập đến như cơn gió lạ đối với trái tim đầy tổn thương của Lệ Thu với nhà báo Hồng Dương nổi tiếng lúc đó. Một cuộc tình như trẻ lại với những ước vọng hạnh phúc bao la trong tâm hồn ca sĩ. Chỉ một năm sau đó Sài Gòn được giải phóng, họ kết hôn và cuộc hôn nhân này đã ban cho hai người một cô con gái xinh đẹp, đặt tên là Thu Uyển.

Những biến động lịch sử giai đoạn này đã tạo nên sự xáo trộn bất thường trong xã hội. Nhiều người đã bỏ quê hương ra đi. Lệ Thu không hề nghĩ tới điều đó mặc cho nhiều người lôi kéo dụ dỗ. Nhưng hạnh phúc trở nên thật sự mong manh. Lệ Thu phân vân giữa ngã ba đường, đi hay ở khi còn mẹ già, con nhỏ và đường tình duyên vốn lận đận trắc trở.

Trong thời gian này Lệ Thu vẫn đi hát cho đoàn kịch Kim Cương và bắt đầu tập những ca khúc cách mạng. Không ngờ những ca khúc mới đã đem lại cảm hứng đột xuất cho Lệ Thu. Cô đã biểu diễn rất thành công những bài hát quen thuộc: "Tự nguyện" (Trương Quốc Khánh); "Trên đỉnh Trường Sơn ta hát" (Huy Du) và "Hà Nội niềm tin và hy vọng" (Phan Nhân).

Ngỡ như cuộc hồi sinh mới trong sự nghiệp ca nhạc của Lệ Thu ở thời điểm đổi thay của số phận và bước ngoặt của lịch sử dân tộc đang bay bổng thì éo le thay, cuộc hôn nhân lần thứ 3 này lại tiếp tục tan vỡ. Nhà báo Hồng Dương chạy theo những cuộc tình khác. Lệ Thu ôm con nuốt hận ra đi (1979).

Ca sĩ Lệ Thu từng là giọng ca vàng của các hãng băng đĩa.
Ca sĩ Lệ Thu từng là giọng ca vàng của các hãng băng đĩa.

Hát trên đường tử sinh và cuộc tình thầm lặng cuối cùng

Khi sang tới đất Mỹ (1980), ở tuổi 37, ca sĩ Lệ Thu tiếp nối những vinh quang trong gần 20 năm dựng nghiệp ở nước nhà. Một giọng hát đằm thắm, quyến rũ và sang trọng đã gây ấn tượng đặc biệt đối với khán giả hải ngoại. Họ yêu tình cảm nồng nàn nhưng không kém phần day dứt của Lệ Thu qua mỗi câu hát. Họ lại thương những cung bậc pha chút hờn oán và khao khát một tình yêu chân thành trong tâm hồn người ca sĩ. Đó là những lời ca đã ám ảnh lòng người của Lệ Thu.

Đôi khi khán giả quên đi tên bài hát và chỉ nhớ những lời ca mà cô đã trao cho họ. Mỗi khi Lệ Thu hát họ nhẩm theo: "Lòng cuồng điên vì nhớ. Ôi đâu người, đâu ân tình cũ. Chớ hoài nhau trong mơ. Nhưng có bao giờ thấy nhau lần nữa" (Hoài cảm). Có những lúc mọi người cảm thấy những lời hát như vận vào cuộc đời thiệt thòi của chính người ca sĩ. Những câu hát đầu tiên năm 17 tuổi mà Lệ Thu hát qua bài "Tà áo xanh": "Lúc anh ra đi lạnh giá tâm hồn. Hoa mai rơi từng cánh trên đường. Lạnh lùng mà đi luyến tiếc thêm chi. Hoa tàn nhạc bay theo không gian" như một sự dự báo cho cuộc đời bất hạnh của mình.

Có lẽ thế đến cuộc tình lần thứ tư đến với Lệ Thu (1988) cũng vậy. Không phải một cuộc tình sét đánh nhưng đã làm Lệ Thu ngộ ra giấc mộng có thật về tình yêu giữa hai người. Chính vì thế, giọng hát Lệ Thu vào thời gian này bay bổng với nỗi niềm đam mê trong những bài ca. Một âm sắc tràn đầy hy vọng và niềm tin yêu cuộc sống trong "Thu hát cho người" và dào dạt hơn trong những bản "Serenade" mộng mơ. Ấy vậy mà Lệ Thu lại bị thần tình ái phá tan niềm hạnh phúc.

Cuộc tình tan tác như cơn ác mộng mà nữ ca sĩ muốn chôn giấu vĩnh viễn. Từ đó mọi cảm xúc Lệ Thu dồn hết cho những bản tình ca buồn. Những biến tấu về mùa thu vàng và dịu dàng nỗi niềm trong "hoài cảm" bất tận với nỗi niềm: "Chiều buồn len lén tâm tư. Mơ hồ nghe lá thu mưa. Dạt dào tựa những âm xưa. Thiết tha ngân lên lời xưa…".

Lệ Thu có những lúc mong mình chết sớm như để trả nợ đời khi nỗi tuyệt vọng trong con tim trỗi dậy. Nhưng rồi mọi chuyện trôi qua khi Lệ Thu được mời về nước biểu diễn trong đêm Sol Vàng (VTV9) nhân kỷ niệm 72 tuổi. Một chương trình đặc sắc với chủ đề "Người kể chuyện tình". Với 20 ca khúc quen thuộc vang danh suốt nửa thế kỷ qua, Lệ Thu đã thể hiện một cung bậc mới lạ. Một giọng hát tràn đầy niềm tin, xóa tan nỗi xót xa cay đắng của số phận, đem lại niềm yêu thương với sắc thu: "Màu vàng lên, biêng biếc ánh chiều rơi.

Nhạc hoài mong, ta hát vì xa người. Thu hát cho người. Thu hát cho người, người yêu… ơi" (Thu hát cho người). Quả thật đó là giọng ca chan chứa nỗi niềm nhân thế. Lệ Thu hát như kể lại những câu chuyện trong cuộc đời mình, luôn hướng về quê nhà cùng sự khát khao cháy bỏng tình yêu, trên con "Thuyền viễn xứ" tha hương.

Bội Kỳ

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.