Biểu tượng thuyền – nhìn từ văn hóa tâm linh

Văn minh nào biểu tượng ấy. Với nền văn minh sông nước của ta thì con thuyền là biểu tượng cơ bản tập trung nhiều nhất những mã văn hóa nên có thể tìm thấy ở đó những ý nghĩa mới. 

Có lẽ khó thống kê hết tần số xuất hiện của hình tượng này trong văn học dân gian, nhưng kể qua cũng cho thấy triết lý sống của người Việt lấp lánh trong đó. Là khuyên người ta phải có nghị lực, có ý chí: "Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo (thuyền)". Là sự tằn tiện, tiết kiệm: "Buôn tàu bán bè không bằng ăn dè hà tiện". Là ứng xử: "Thuyền theo lái gái theo chồng". Là phê phán nhẹ nhàng những người vụng về việc này nhưng khéo léo lấy việc khác để che chắn qua "Vụng chèo khéo chống". Là khát vọng vương giả: "Một ngày ngồi tựa thuyền rồng/ Còn hơn cả kiếp nằm trong thuyền chài"...

Ở ngày hôm nay, vào ngày Thần tài, cứ đến hiệu vàng sẽ thấy biểu tượng thuyền buồm bằng vàng, nhỏ nhắn, xinh xắn mà sang trọng là bán chạy nhất. Vì ẩn trong đó khát vọng tâm linh: "Thuận buồm xuôi gió"... Sách "Lĩnh Nam chích quái" chép: "Người Việt cổ lặn giỏi, bơi tài, thạo thuỷ chiến, giỏi dùng thuyền".

Nhìn vào lịch sử cũng thấy những con thuyền đã giúp người Việt Nam làm nên những chiến công lừng lẫy: Lý Thường Kiệt (?) hùng tráng ngâm "Nam quốc sơn hà" trên sông Như Nguyệt khiến quân Tống sợ mất vía. Ngô Quyền thắng quân Nam Hán, Trần Hưng Đạo thắng quân Nguyên trên sông Bạch Đằng... Thời chống Mỹ chúng ta có những đoàn tàu "không số" làm kẻ xâm lược thông minh và hiếu chiến nhất thế giới phải bất ngờ, bái phục...

Một cảnh hát “Chèo Tầu”.
Một cảnh hát “Chèo Tầu”.

Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa khẳng định hình tượng mái đao chùa Việt cổ là bóng dáng của mũi thuyền lướt sóng. Ngôi nhà Việt cổ mang hình thuyền. Phần võng xuống ở giữa mái đình Việt đến nay vẫn được gọi "lòng thuyền". Tóm lại đi tìm bản sắc Việt không thể không thể tìm hiểu biểu tượng con thuyền!

Văn hóa Việt tự hào có bộ môn nghệ thuật Chèo đặc sắc. Về nguồn gốc, từng có ba luồng quan niệm: một là từ Trung Quốc truyền sang vào đời Lý, Trần, người có công là Lý Nguyên Cát. Hai là Chèo từ "trò nhời" mà ra, chữ "chèo" là do từ "trào" mà đọc chệch đi, vì bản chất của "Chèo" là tiếng cười. Ba là, Chèo ra đời từ cuộc sống chèo thuyền.

Có nhiều loại hình Chèo thể hiện rất rõ bóng dáng con thuyền trong lời hát, điệu múa. Chèo cầu ngư (còn gọi bả trạo, bả trạo tức cầm mái chèo) tổ chức vào dịp cúng tế Nam Hải Đại vương (có vùng gọi Cá Ông tức cá voi, mỗi khi cá chết dạt vào bờ). Chèo đưa linh tổ chức vào dịp tang lễ hoặc Lễ Vu lan (15 tháng Bảy âm lịch).

Nhiều nghệ thuật diễn xướng dân gian lấy "mô hình" là hành động chèo thuyền để phát triển lên thành tác phẩm, tức có hệ thống hẳn hoi, chuyển tải những ý nghĩa triết lý rất sâu sắc về quan niệm, cách ứng xử hay sinh hoạt. Các trò như Hát Dô, Hát Chèo Tầu, Hát Chèo Chải, Trò Thủy... đều gắn liền với chiếc thuyền. Chèo Chái hê có kết cấu là một quá trình, bắt đầu từ: lên rừng, đẵn gỗ, kéo gỗ, xẻ ván, ghép thuyền, chèo thuyền, cắm sào... Trong đó mảng "đẵn gỗ" là "cái lõi" của màn chèo, kể về công việc quyết định nhất: "Tôi tế Sơn thần đẵn lấy gỗ ra/ Mà chèo là chèo chái hê, hê ế hề la...". Nhân đây xin nói câu "Vụng chèo khéo chống" cũng có nghĩa tương tự với "Vụng chèo khéo trống", vụng hát (chèo) nhưng khéo dùng trống (tiếng) giúp cho màn (vở) cũng "xuôi chèo mát mái". Câu sau có thể ra đời sau lại khoanh trong vùng văn hóa chèo nên ít phổ biến!

Từ các kết quả nghiên cứu có thể khẳng định hầu hết những lối hát trên kế thừa, ảnh hưởng rất rõ của chèo dẫn vong (đưa linh) từ lời hát đến điệu múa. Điều này ủng hộ cho nhận định kịch chủng chèo ra đời trên cơ sở cuộc sống chèo thuyền ngoài đời. Nó không chỉ đúng với quan niệm nghệ thuật bắt nguồn từ lao động của Mác mà còn đúng với nội dung và hình thức các tác phẩm chèo của ta. Dưới đây xin chọn hai loại hình chèo đậm tính tâm linh (Chèo Tầu và Chèo đưa linh) để chứng minh chèo mang đậm tinh thần Việt, bản sắc Việt, chứ không hề có nguồn gốc từ bên ngoài.

Về bản chất, Chèo đưa linh là niềm tin "con người chết chưa phải là hết" mà là "về" (sống gửi thác về) với tổ tiên nơi "chín suối". Muốn đến được đó phải "đi đò". Nên lễ "phạn hàm" là bỏ một nắm gạo và ba đồng tiền (đồng kẽm, đồng chinh) vào miệng người chết. Gạo để linh hồn ăn, không thành ma đói. Tiền để đi đò. Về đại thể, "quá trình" chia là các giai đoạn (cách): Hát Chúc (giáo đầu); Hát Giáo hương mời các Chư vị thần thánh về chứng giám; Hát Kể về cuộc sống trần gian và cuộc đời người vừa chết; Hát Đưa linh kể về "hiếu tử" (theo "Nhị thập tứ hiếu" hoặc "Thập ân") và những động tác chèo đò theo lối cách điệu.

Hạt nhân triết học của tục chèo đưa linh là một quan niệm sống lạc quan, coi chết là "về" chứ không phải chuyện đau thương: "Hồn hề/ Hồn hề/ Bây giờ hồn đã được về/ Nghe lời chúc thực độ trì trước sau/ Cỗ bàn nào có chi đâu/ Một lưng cơm bạc, đôi đầu đũa bông...". Nó quan niệm cái chết nhẹ nhàng chứ không bi lụy.

Thực chất, đám tang dành cho người chết chỉ một phần, phần lớn dành cho người sống, tức làm chức năng giáo huấn, giáo dục thể hiện ở phần hát báo hiếu. Dĩ nhiên phải buồn, phải xót nhưng thấm thía: "Mẹ ơi mẹ vội đi đâu/ Trăm thảm nghìn sầu biết thuở nào khuây/ Vì đâu nên nỗi xa xôi/ Miếng ngọt miếng bùi chưa báo đủ cho...". Về sau này "Hầu đồng" đã tiếp thu, kế thừa mỹ học của Chèo đưa linh để làm nên một diện mới!

Chèo đưa linh từ xưa đã được thể hiện khá cụ thể và sinh động trong Hò Chèo vùng Lệ Thủy (Quảng Bình). Ví dụ Lời giáo đầu: "Ngày hôm nay sông bằng nước phẳng/ Lại có thêm gió mát trăng thanh/ Căng buồm lên chắn gió đông phong/ Quay lái lại sãi tôi chở cụ vong về bên Tây Trúc". Ngay "Lời giáo" này cũng cho thấy hoàn cảnh, không gian buổi đưa linh cữu: sống ở vùng lũ nên thường đưa người thân an táng trên núi. Đi bằng thuyền, ngược dòng Kiến Giang, suốt đêm kịp hạ huyệt trước khi mặt trời mọc. Suốt chặng đường, thay bằng tiếng khóc là tiếng hò khoan, tiếng phèng la và tiếng trống điểm.

Hò cái bắt nhịp, hò con xướng theo nhịp thuyền đi. Hò kể về nỗi buồn, nỗi tiếc thương của gia quyến. Hò đi làn "mái nện" nhịp đều hòa cùng tiếng sanh, tiếng mõ buồn da diết. Hò đi nhịp chèo cạn "mái ba", hò cái xướng, đội âm công đứng hai hàng, miệng hò, tay làm động tác chèo thuyền… Lời hò buồn mà không thảm, xót mà không ai oán: "Ra đi bỏ cửa bỏ nhà/ Luống rau hàng chuối ớt cà ai chăm/ Ra đi mấy tháng mấy năm/ Sao đành đi mất, biệt tăm không về". Rất rõ một quan niệm chết chỉ là cuộc "đi" lâu dài, để công việc cho người ở lại làm thay!

Hò đưa linh (Bố Trạch- Quảng Bình).
Hò đưa linh (Bố Trạch- Quảng Bình).

Chèo Tàu là một hình thức diễn xướng độc đáo chỉ có ở Tân Hội, Đan Phượng (Hà Nội). Hội được tổ chức vào nửa cuối tháng Giêng âm lịch để ghi nhớ công lao vị tướng Văn Dĩ Thành cùng quân dân đuổi giặc giữ nước. Trong tập "Truyền kỳ mạn lục" (tên truyện là "Chuyện tướng Dạ Xoa") có kể về vị tướng này nhưng trong bối cảnh đánh lại bọn yêu ma. Hội chính diễn ra 7 ngày với 3 "kỳ": dâng tế, diễn xướng, hát giao duyên. Phần dâng tế có 3 bài "Mời rượu", 3 bài "Chúc Thánh", tất cả quỳ trước lăng (thờ Văn Dĩ Thành) hát trong nhịp trống, chiêng, phách.

Hát xong, dâng hương rồi lên thuyền rồng để diễn xướng trạo ca (vừa hát vừa chèo thuyền) và cuối cùng là Hát giao duyên. Gọi là Chèo Tầu tức hát Chèo trên những chiếc thuyền, những chiếc tàu… Còn gọi là hát Tàu Tượng vì kèm với "tàu" là "voi" (tượng). Người ta đóng bằng gỗ những mô hình con voi và thuyền để "ca nhi phường" đứng trên đó múa hát những làn điệu cổ. Chèo Tầu là điệu hát mô phỏng hành động chèo thuyền chở quân đi đánh giặc.

Điều đặc biệt là những người chèo thuyền ấy lại là phụ nữ, từ "Cái Tầu" đến "con Tầu" đều là nữ. Nó vừa chứng minh một nét văn minh sông nước in rất đậm trong cuộc sống người Việt xưa và sinh động hóa câu thành ngữ: "Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh".

Như vậy Chèo Tầu có cái vỏ là tâm linh thể hiện sự ngưỡng vọng, tôn thờ những anh hùng có công với đất nước nhưng cái lõi lại rất duy vật, gửi gắm khát vọng hòa bình, tôn kính phụ nữ... Thì ra với mỗi hiện tượng văn hóa cho dù mang hình thức tâm linh siêu hình đến mấy nhưng cũng có hạt nhân duy vật rất đáng quý.

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Người trẻ yêu lịch sử qua văn học, nghệ thuật

Những người trẻ thế hệ 8x, 9x, 2000 đang lựa chọn cách tiếp cận lịch sử theo cách riêng của mình. Với họ, lịch sử là những câu chuyện được kể lại sống động trên các nền tảng số, hay những bộ phim, những bài hát, những tiểu thuyết hấp dẫn và ý nghĩa... giúp họ hiểu hơn về đất nước mình.

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

"Kế hoạch CM12" - Tái hiện chiến công lịch sử

Bắt đầu lên sóng truyền hình ANTV (thứ Bảy, Chủ nhật) từ ngày 22/8 và trên kênh HTV9 (thứ Hai, thứ Ba) từ ngày 24/8, bộ phim truyền hình "Kế hoạch CM12" đã nhanh chóng thu hút sự quan tâm của công chúng. Không chỉ khắc họa những cuộc đấu trí căng thẳng, "Kế hoạch CM12" còn làm nổi bật bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh thầm lặng của những cán bộ, chiến sĩ CAND trong hành trình bảo vệ An ninh Tổ quốc từ những ngày đầu đất nước thống nhất.

Trưởng thành cùng lực lượng

Trưởng thành cùng lực lượng

Trong hơn 80 năm xây dựng, phấn đấu và trưởng thành của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam, có thể nói rằng, văn học nghệ thuật về lực lượng công an với sứ mệnh của mình đã góp phần đáng kể vào sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân…

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Thời của tiểu thuyết trinh thám

Mới đây, việc 2 bộ phim kinh dị "BACKROOMS" và "Obsession" thắng lớn phòng vé đã gây ra nhiều bất ngờ. Bên cạnh việc được thực hiện bởi các nhà sáng tạo nội dung tuy không chuyên về điện ảnh nhưng lại mang đến sự mới mẻ, thích thú, thì thực tế này cũng cho thấy thể loại thriller/mystery hay giật gân/bí ẩn đang được yêu thích hơn bao giờ hết cả trong phim ảnh cũng như văn chương.

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Kể chuyện truyền thống Công an nhân dân bằng âm nhạc

Được đầu tư hoành tráng, công phu và giàu sáng tạo, các chương trình nghệ thuật về Công an nhân dân (CAND) thời gian qua không chỉ góp phần làm mới nghệ thuật chính luận mà còn lan tỏa sâu sắc hình tượng người chiến sĩ CAND bản lĩnh, nhân văn, gần gũi trong lòng công chúng.

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Xứ thơ, xứ biển, xứ biên thùy

Nằm ở một góc trời Tây Nam của Tổ quốc, Hà Tiên (thuộc tỉnh An Giang) sở hữu một địa thế kỳ lạ đến mức người xưa phải ví nơi đây như một “Việt Nam thu nhỏ” khi vừa có biển, có núi, có sông, có hang động, có đầm phá và có cả đường biên giới. Nhưng cái làm nên hồn cốt của Hà Tiên không chỉ là cảnh sắc thiên nhiên. Đi qua 3 thế kỷ thăng trầm, Hà Tiên đã hóa thân từ một xứ thơ lãng mạn bậc nhất trời Nam, bước qua những đau thương của lịch sử, để rồi vươn mình trỗi dậy trở thành một đô thị cửa ngõ hiện đại, canh giữ biên cương bờ cõi.

Tôi tự “đặt hàng” mình

Tôi tự “đặt hàng” mình

Nhạc sĩ Minh Đạo là một gương mặt nổi bật trong làng âm nhạc Việt Nam với vai trò sáng tác, nhà sản xuất, phối khí, chỉ huy và giám đốc âm nhạc ở nhiều chương trình, các vở nhạc kịch lớn. Gần đây, những ca khúc của anh trong các bộ phim do Điện ảnh CAND sản xuất như “Đội điều tra số 7”, “Tận hiến”... nhận được sự yêu mến của đông đảo khán giả. Phóng viên Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng nhạc sĩ Minh Đạo.

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Giữ bình yên đại ngàn bằng lòng dân và trách nhiệm

Là dự án phim ý nghĩa nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân, "Trời cao nguyên xanh" không chỉ khắc họa cuộc chiến bền bỉ, thầm lặng nhưng không kém phần gian nan của các chiến sĩ Công an mà còn mang đến cho khán giả hành trình giàu cảm xúc về lòng dân, tinh thần đoàn kết và khát vọng bình yên cho bầu trời cao nguyên xanh.

Ước hẹn từ quá khứ

Ước hẹn từ quá khứ

Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” đã thu hút sự quan tâm của quần chúng nhân dân trong những ngày qua

Phim "Mưa đỏ" ghi dấu ấn của điện ảnh Việt ở đề tài chiến tranh cách mạng.

Khát vọng trở thành ngành công nghiệp văn hóa

40 năm đổi mới - một chặng đường đánh dấu nhiều cột mốc của điện ảnh Việt Nam từ một nền điện ảnh bao cấp sang cơ chế thị trường. Tại hội thảo "Diện mạo điện ảnh Việt Nam 40 năm đổi mới", tổ chức trong khuôn khổ Liên hoan phim Châu Á - Đà Nẵng (DANAFF) Tiến sĩ Ngô Phương Lan - Chủ tịch Hiệp hội Xúc tiến phát triển Điện ảnh Việt Nam - Giám đốc DANAFF nhận định: "40 năm trước, Đổi mới không chỉ mở ra một giai đoạn phát triển mới về kinh tế - xã hội, mà còn mở ra những không gian sáng tạo mới cho văn học, nghệ thuật. Tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, phản ánh đúng sự thật đã trở thành động lực quan trọng để văn nghệ sĩ khám phá sâu hơn đời sống con người, những chuyển động của xã hội và những khát vọng của dân tộc trong thời kỳ mới".

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Những dấu ấn khác biệt của “Tận hiến”

Bộ phim truyền hình "Tận hiến" (Điện ảnh CAND sản xuất) vừa khép lại hành trình phát sóng nhưng dư âm mà bộ phim mang lại vẫn tiếp tục lắng đọng trong lòng khán giả. Giữa dòng chảy của điện ảnh chính luận, "Tận hiến" tạo dấu ấn không chỉ bởi câu chuyện về những chiến sĩ tình báo CAND hoạt động và sẵn sàng hy sinh trong thầm lặng mà còn ở cách làm phim giàu tâm huyết và khát vọng.

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Hình tượng nghệ thuật trong thơ trẻ đương đại

Có một số bạn yêu thơ hỏi tôi về việc: "Các nhà thơ trẻ hiện nay quan tâm đến hình tượng thơ trong sáng tác như thế nào?". Theo tôi, việc xây dựng hình tượng thơ có vai trò đặc biệt quan trọng trong sáng tác thơ ca của những người viết, bởi hình tượng thơ chính là nơi nhà thơ gửi gắm tư tưởng, cảm xúc, cách nhìn về con người và cuộc đời.

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Hội sách thiếu nhi ở “siêu đô thị”

Nằm trong các hoạt động kỷ niệm 50 năm Ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026), Hội sách Thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh lần 6 - năm 2026 với chủ đề: “Em vui đọc sách, học bao điều hay” vừa được khai mạc với nhiều hoạt động phong phú, sáng tạo dành cho thiếu nhi, phụ huynh, giáo viên và cộng đồng.

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Để truyện tranh tham gia vào công nghiệp văn hóa

Truyện tranh là một thị trường đang bị bỏ ngỏ ở Việt Nam. Điều chúng ta thiếu không phải là những tác giả tài năng mà là một hệ sinh thái đủ mạnh để nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển các giá trị sáng tạo. Những vấn đề này được đặt ra trong tọa đàm "Kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo truyện tranh cho người Việt" diễn ra mới đây tại Hà Nội.