Biển trong thơ cổ

Việt Nam là một quốc gia biển, người Việt đã sống chung với biển cả ngàn năm lịch sử. Biển đã in dấu trong hàng trăm tác phẩm văn học. Các sáng tác văn học biển với những tác phẩm thi ca của hàng loạt các tác giả nổi tiếng mà phần lớn của các hoàng đế, các nhà Nho, nhà văn hóa như Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông, Trần Minh Tông, Lê Thánh Tông, Nguyễn Trãi... 

Hàng trăm tác phẩm viết về biển, các hải cảng, các danh lam thắng tích cửa biển đã tạo nên sự phong phú về nội dung nghệ thuật. Các tác phẩm này ca ngợi vẻ đẹp non sông, các chiến tích lẫy lừng của thủy trận trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm. Đây là một mảng văn học chiếm một ví trí quan trọng trong lịch sử văn học Việt Nam.

Những tác phẩm này, ngoài giá trị như những sử liệu, còn mang nhiều giá trị về mặt nghệ thuật. Đó là cảm hứng dân tộc, cảm hứng nhân văn và khái cảm lịch sử... Ví dụ trong bài thơ Hạnh An Bang phủ, Vua Trần Thánh Tông (1240-1290) viết như sau: “Sáng leo lên đỉnh mây trời, Tối về vụng biển nằm ngơi trăng vàng. Bỗng nhiên được thú thênh thang, Bao nhiêu thi tứ tuôn tràn cung mây”.

Đây là bài thơ sớm nhất hiện còn viết về biển Việt Nam mà lại là một tác phẩm của một vị quốc chủ. Nhan đề bài thơ cho thấy, tác giả đang có một cuộc tuần hành (công cán chính trị) đến một đơn vị hành chính ngoài biển là phủ An Bang (tức Quảng Ninh ngày nay).

Thế nhưng, đọc cả bài thơ, chúng ta chỉ thấy một thi nhân đang thảnh thơi giữa giang sơn gấm vóc. Sáng leo lên đỉnh núi phủ đầy mây nổi, chiều về lại nằm ngủ trong vịnh trăng trong. Xúc cảnh sinh tình nên nhà thơ mới dạt dào thi tứ.

Trong cảm hứng của ông, cái đẹp của non sông có khi còn gắn liền với cảm hứng thế sự, cảm hứng chính trị như bốn câu thơ cuối của bài Hạnh Thiên Trường hành cung: “Trăng vô sự chiếu người vô sự. Nước mùa thu ngậm trời mùa thu. Bốn bể đã trong, nhơ đã lắng. Năm nay chơi thú vượt năm xưa”. Bài thơ cho thấy một tâm thái an lạc, tĩnh tại.

Sự tĩnh tại, an lạc không chỉ tồn tại như một cảm xúc thẩm mỹ mà còn như như một triết lý nhân sinh. Đó là khoảnh khắc nhàn hạ giữa trăm công nghìn việc của một vị đế vương. Đầu bài thơ là khung cảnh thanh u, vắng lặng. Nhà thơ ca ngợi vùng đất Thiên Trường như một đảo châu trong các tiên đảo huyền thoại. Trăm loài chim hót véo von như sênh phách. Ngàn hàng quýt xanh mướt gợi nhớ đến điển “nô bộc quất” của Lý Hoành, hàm ý nhấn mạnh sự phong nhiêu của sản vật như là một biểu hiện của một nền chính giáo lành mạnh.

Còn con người chủ thể ở đây, tuy thảnh thơi đấy, tuy nhàn tản đấy nhưng kể cả trong lúc đó, ông vẫn nghĩ về những vấn đề của đất nước: “Bốn biển trong xanh bởi đã sạch bóng quân thù”. Câu thơ hẳn có sự hồi hướng đến cuộc chiến oai hùng chống giặc Nguyên Mông năm nào.

Như vậy, từ góc độ hình tượng, các hình ảnh về biển đã trở thành một yếu tố không thể tách rời trong cảm quan nghệ thuật và khái cảm lịch sử. Biển đã trở thành một thực thể không thể tách rời trong tâm não và ý chí. Cái ý vị lịch sử ấy đã trở thành một nguồn mạch xuyên suốt qua nhiều đời, ở nhiều chiều kích khác nhau, như câu thơ sau đây của Vua Trần Anh Tông (1276-1320) khi ông dừng lại cảng Phúc Thành trên đường đi chinh phạt Chiêm Thành:

Ngọn tùng xóm núi trăng tỏa ánh,

Đầu sóng làng chài gió thổi hồng.

Muôn đội cờ bay, lòa mặt biển,

Năm canh kèn trống, động thiên không.

Đó là một cảm giác khác khi nhìn đất nước của mình từ một góc nhìn khác: góc nhìn từ phía biển. Từ biển mà ngắm trăng lên, trăng vừa nhô lên khỏi đỉnh núi, chiếu ánh sáng thoải từ sườn non cho đến chân non, làm hiện ra những ngôi nhà xóm núi. Ở một góc khác, những làng chài (ngư quốc) như những hoa tiêu nơi đầu sóng ngọn gió, với bạt ngàn hoa răm duyên hải phô sắc hồng rực rỡ.

Không chỉ là các thủ pháp miêu tả của hội họa sơn thủy truyền thống nữa mà ở đây tác giả đã hoạch định, đã triển khai một không - thời gian rất động: vầng trăng ló đỉnh núi là động, kéo theo sự phát lộ của ngọn thông, của chân núi, của dân cư. Những làng chài dập dềnh trong sóng biển, gió biển cũng là động, gió lướt qua các triền hoa răm biển ven bờ đỏ rựng cũng là động.

Nhưng, động hơn cả là muôn đội cờ xí bay sáng lòa mặt biển, với tiếng trống trận náo nức suốt năm canh như từ cung trời dội xuống. Đó là một diễn ngôn sống động về khí thế anh hùng của thời đại Đông A: “Tuốt mây gươm giáo dựng non ngàn. Biển nuốt thủy triều cuốn tuyết tan”.

Đôi câu thơ trên của Vua Trần Minh Tông (1300-1357) khi đi thăm lại chiến trường xưa trên cửa sông Bạch Đằng cũng cho thấy một khí thế tương tự. Núi biếc dựng chót vót như kiếm kích đang lôi tuột mây xanh xuống nước thẳm. Cửa biển nuốt nhả thủy triều bằng cách cuốn lấy những làn sóng bạc. Sông núi cổ kim mở ra trong đôi mắt nhà thơ. Đó là cái nhìn “siêu việt thời gian”, để kết nối quá khứ với hiện tại, để hồi cố lại chiến thắng oanh liệt trên cửa sông lịch sử. Đến cuối bài thơ, tác giả kết bằng hình ảnh thơ cực dữ dội và hùng tráng:

Chan chứa dòng sông ngầu bóng xế,

Ngỡ là máu giặc hãy còn tươi.

(Đào Phương Bình - Nam Trân dịch)

Khái cảm lịch sử với cái nhìn “siêu việt thời gian” có thể coi là một đặc điểm điển hình trong thi pháp văn học Trung đại. Bất kỳ ai, nếu một lần có cơ hội được đứng trên những địa danh đã đi vào lịch sử như Bạch Đằng cũng đều có chung cảm hứng như vậy, từ Trần Anh Tông, Trần Minh Tông, cho đến Trương Hán Siêu, Nguyễn Trãi:

Khí biển hơi may thổi lạnh rùng,

Bạch Đằng qua cửa nhẹ buồm dong.

Chòm chòm núi đá kình băm xác,

Lớp lớp bờ lau kiếm nát chồng.

(nhóm Đào Duy Anh)

Với Nguyễn Trãi, khi nhìn biển, ngoài khái cảm lịch sử, ông luôn đưa ra những nhận định về quy luật của vũ trụ và lẽ hưng vong của cuộc đời.

Cọc đóng trùng trùng trước sóng khơi

Lại ngầm lưới sắt bủa nơi nơi

Lật thuyền biết hẳn dân như nước

Dựa hiểm bằng đâu mệnh tại trời.

(Lê Cao Phan dịch)

Nhìn cửa biển nay như một hệ thống phòng thủ then chốt với rừng cọc lưới sắt - binh hùng tướng mạnh, nhà thơ không chỉ đề cập đến những nỗ lực về quân sự và nghệ thuật binh pháp mà còn đặt nó trong quan niệm chung về sự tổng hòa của các yếu tố địa chính trị để làm nên sự vững mạnh của một đất nước. Đó là sự tổng hòa của 3 yếu tố: thiên thời - địa lợi - nhân hòa theo quan niệm truyền thống.

Quân sự hùng hậu chỉ là một biểu hiện của “nhân hòa”, còn điều cơ bản nhất của sức mạnh quân sự, của sự vững bền thể chế và sự tồn vong của triều đại chính là ở “lòng dân”. Sự nhắc nhở kinh nghiệm chính trị từ nguồn dẫn kinh điển Nho gia ở đây cho thấy, Nguyễn Trãi luôn đặt thực thể triều đại trong mối tương quan với bối cảnh chính trị xã hội và học thuyết Nho giáo về đức trị/văn trị. Điều này ông còn nhắc lại một lần nữa trong bài Quan duyệt thủy trận:

Biển Bắc năm xưa đã diệt kình,

Thanh bình còn gắng luyện nhung binh.

Tinh kỳ phơi phới mây liền bóng,

Chiêng trống rùng rùng đất chuyển thanh.

Muôn kiếm lòa sương tỳ - hổ dữ,

Nghìn thuyền bày trận quán - nga tranh.

Lòng vua cùng muốn dân ngơi nghỉ,

Văn trị nên xây dựng thái bình.

(nhóm Đào Duy Anh)

Như thế ở đây, chúng ta vẫn thấy khái cảm lịch sử luôn đi đôi, luôn song hành với tư tưởng Nho giáo. Yếu tố “lòng dân” được coi như là lực lượng/ nguyên nhân then chốt cho việc “chở thuyền, lật thuyền” - những cuộc canh cải sơn hà. Và lòng dân, theo quan niệm của Nho giáo là sự nhất thể của cái sở dục giữa “thánh tâm” (nhà vua đại diện cho thế lực chính trị) với dân tâm (đại diện cho sức mạnh của cả cộng đồng Nhân dân).

Đây là một trong những nền tảng cơ bản cho tư tưởng dân bản của Nho giáo trong lịch sử. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đó phải được thực thi bởi những biện pháp chính trị theo đúng khuôn mẫu của kinh điển, ấy là “văn trị”. Thời loạn thiên về võ trị, thời bình chuộng dùng văn trị; còn dân bản là nền tảng cho cả hai phương thức chính trị đó.

Như trên đã phân tích, tư tưởng Nho giáo đã chi phối đến quan niệm thẩm mỹ của các sáng tác văn học biển đảo. Như một sợi chỉ đỏ xuyên suốt, Nho giáo đã trở thành động - năng lực để người Việt hướng biển và từ biển mở rộng về phương Nam. 

Việc áp dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu mảng đề tài này ít nhiều có đóng góp trên phương diện lý luận văn học, góp phần soi sáng một góc khuất nhưng thú vị của lịch sử văn học và lịch sử văn hóa. 

Cùng với núi và đồng bằng, những diễn ngôn hướng biển với những tri nhận hoặc mỹ cảm về biển có thể coi là những xu hướng không thể không xem xét đến khi nghiên cứu về lịch sử văn học nói riêng và lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung.

Trần Trọng Dương

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?