Bên phía nhà Swann - nghịch lý của một kiệt tác văn chương

Trong lịch sử văn học thế giới, có những cuốn sách mà ngay từ khi mới ra đời, tự bản thân nó đã tạo nên những nghịch lí, gây nhiều tranh cãi, cho đến tận hôm nay: Một mặt nó được xếp vào hàng những kiệt tác, được ca ngợi, tán dương; mặt khác, cuốn sách và tác giả của nó lại từng chịu nhiều “xỉ vả”, từng bị gắn cho những “mĩ từ” không mấy hay ho: suy đồi, bệnh hoạn, điên rồ, rỗi hơi…

Đó là các trường hợp Ulysses của James Joyce, Lolita của Nabokov, Vụ án, Lâu đài, Nước Mĩ của Kafka. Bên phía nhà Swann (trong bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust) cũng nằm trong số những “kiệt tác điên rồ” như thế…

Trong số các tác giả và tác phẩm được nhắc đến ở trên, cho đến thời điểm này, người đọc Việt Nam đã có may mắn được tiếp xúc với Lolita của Nabokov, Vụ án, Lâu đài của Kafka, Dưới bóng những cô gái tuổi hoa và Bên phía nhà Swann (hai trong số bảy tập bộ Đi tìm thời gian đã mất) của Marcel Proust.

Ulysses của James Joyce, một nhà văn gốc Irlande, hẳn sẽ còn cần đến một thời gian dài (do những khó khăn đặc biệt trong chính lối viết của tác giả) may ra mới đến tay người đọc. Tại sao thế? Không khó để trả lời ngay rằng, có thể chính tác giả đã cố tình tạo ra điều đó.

James Joyce đã có lần nửa đùa nửa thật nói rằng, ông viết Ulysses là để “tạo công ăn việc làm” cho các giáo sư đại học hàng thế kỉ sau: “Tôi đã đưa vào trong Ulysses quá nhiều ẩn ngữ (enigmas) và câu đố (puzzles) đến nỗi nó sẽ khiến cho các giáo sư phải bận bịu hàng thế kỉ để tranh cãi xem tôi muốn nói gì, và đó là cách duy nhất để đảm bảo tính bất tử của tác phẩm”. Nabokov, nhà văn Mĩ gốc Nga cũng đã từng kể lại những khó khăn khi ông cho xuất bản tác phẩm Lolita như thế nào, tại sao cùng một tác phẩm mà ông phải viết trong hai văn bản tiếng Anh và tiếng Nga, đã từng làm đau đầu các nhà dịch thuật.

Xung quanh chuyện xuất bản Lolita, Nabokov kể, ngay khi bản thảo được gửi đến nhà xuất bản, các biên tập viên đã gạt phắt ngay, thậm chí còn “dọa nạt” ông rằng, họ có thể “rơi vào vòng tù tội” nếu cho in một tác phẩm như thế. Trường hợp những tác phẩm của Kafka, nhà văn Tiệp gốc Do Thái, viết văn bằng tiếng Đức thì lại khác. Sinh thời, Kafka chỉ cho công bố duy nhất truyện vừa Hóa thân và một số truyện ngắn. Ba cuốn tiểu thuyết đúng nghĩa còn lại Vụ án, Lâu đài, Nước Mĩ, trước khi qua đời, ông đã giao lại cho người bạn thân Max Brod vốn cũng là một nhà văn, với lời trăng trối hãy cho đốt tất cả chúng sau khi ông chết.

Max Brod kể lại rằng, dự cảm được thiên tài trong tập di cảo của người bạn, ông đã không đốt nó đi như lời trăng trối của Kafka, mà sau đó nó đến nhà văn Thomas Mann, một trong những “cây đại thụ” của văn học Đức lúc ấy. Và ông nhận được câu trả lời: “Bạn thân mến, tôi tin rằng tác giả những tập sách này là một người tốt, nhưng đó chỉ là một nhà văn tồi”. Kafka có thật sự là “nhà văn tồi” hay không thì bây giờ tất cả chúng ta đều đã tự tìm được câu trả lời chính xác nhất.

Quả là phía sau sự ra đời của các kiệt tác văn chương đều có không ít những điều rắc rối. Bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất của Marcel Proust, đặc biệt, tập 1 Bên phía nhà Swann, ở ngay trong thời điểm ra đời cách đây hơn 100 năm tại Pháp, cũng đã từng có những chuyện “rắc rối” như thế. Rất gần đây, bằng sự cố gắng của mình, một nhóm dịch giả ở Việt Nam với sự trợ giúp của Sứ quán Pháp, Công ty Văn hóa truyền thông Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn học đã công bố bản dịch tiếng Việt tập đầu tiên bộ tiểu thuyết 7 tập Đi tìm thời gian đã mất.

Khỏi phải nói, đông đảo công chúng bạn đọc đã thỏa mãn niềm mong đợi bấy lâu nay trước một kiệt tác như thế nào! Tuy nhiên, vẫn còn một vài tiếng nói tỏ ý không bằng lòng. Sự không bằng lòng của một đôi người với bản dịch một kiệt tác như thế âu cũng là điều dễ hiểu. Vì với một kiệt tác ai lại không muốn đạt tới sự hoàn hảo? Nhưng lẽ công bằng trong việc đánh giá công sức lao động của những người đã có công đưa tác phẩm đến tay bạn đọc Việt Nam thì lại không thể phủ nhận!

Để giúp bạn đọc hiểu được giá trị thực của tác phẩm, cũng như sự cố gắng lớn lao của nhóm dịch giả, chúng tôi muốn cung cấp thêm một số tư liệu dưới đây với hy vọng bản chất vấn đề sẽ được người đọc rộng rãi hiểu đúng đắn hơn.

Marcel Proust ấp ủ bộ tiểu thuyết Đi tìm thời gian đã mất từ khoảng năm 1909. Trong “Lời giới thiệu” tập 1 của bộ sách này, dịch giả Lê Hồng Sâm, đồng thời cũng là một chuyên gia lâu năm về văn học Pháp, đại diện cho nhóm dịch giả đã viết những dòng sau: “Từ đầu mùa hạ năm 1909, Proust sống ẩn dật, giam mình trong phòng riêng cửa đóng kín, sàn nhà, các bức tường, và trần nhà rất cao đều được lót những lớp bần, không để lọt một tiếng động. Ông muốn từ nay chỉ sống cho tác phẩm lớn, duy nhất, của đời mình. Ban đêm đôi khi ông mới ra khỏi nhà, chỉ vì cần gặp một số người mà ông nói tới, trong quá trình tái tạo “tòa dinh thự mênh mông của hoài niệm”.

Phải đến tận năm 1927, tức là trong suốt gần 20 năm sau, bộ tiểu thuyết 7 tập Đi tìm thời gian đã mất mới chính thức được in ra đầy đủ. Trong số 7 tập của bộ Đi tìm thời gian đã mất, tập 1, Bên phía nhà Swann được coi là khó đọc nhất, bởi lẽ trong ý đồ của M. Proust nó được coi như khúc dạo đầu của bản tổng phổ chung. Tập 1 đã phải gánh trọng trách rất lớn giống như “đứa con cả” trong gia đình: là khúc dạo đầu đi tìm giọng điệu chung, nó đồng thời cũng là những giãi bày của tác giả về lí do ông viết cũng như những vấn đề cốt lõi nhất của bộ sách. Thậm chí Proust đã phải bỏ tiền túi ra in tập sách này.

“Đứa con cả” trong gia đình Đi tìm thời gian đã mất quả nhiên đã chịu rất nhiều tai tiếng, vất vả, nhưng như dịch giả Đặng Thị Hạnh tâm sự, xét trên giá trị văn chương, đặc biệt trên nhiều phát kiến cách tân tiểu thuyết, không ít người vẫn coi đó là tập “có giá trị nhất”. Hai chuyên gia “có hạng” của Pháp về Marcel Proust, Jean - Yves Tadié và Antoine Compagnon đã nói về những khó khăn ngay ở chính nước Pháp khi cuốn sách ra đời như sau:

Trong Marcel Proust, Giáo đường của thời gian (Marcel Proust, La Cathédrale du temps) của Jean-Yves Tadié (Gallimard,1999), ở phần “Lời chứng và tư liệu” (Témoignages et documents) có những đoạn mang tiêu đề “Tác giả bị khước từ nhiều nhất ở Paris”, tiếp theo là “Từ sự đả kích tàn tệ đến thắng lợi”, tác giả Tadié cho biết như sau: “Tất cả mọi người đều không thích Proust. Các nhà xuất bản là những người đầu tiên nêu lên những phản bác mà sau này thiên hạ sẽ luôn sử dụng đối với ông: dài dòng, không có tình tiết, miêu tả giới giao tế thượng lưu. Tóm lại, một gã chán ngắt. Phải rất lâu Proust mới đạt tới vinh quang. Bên phía nhà Swann chỉ được bạn bè thân thiết đón nhận. Ngược lại Dưới bóng những thiếu nữ tuổi hoa đoạt giải Goncourt ngày 10/12/1919”.

Bìa sách “Bên phía nhà Swann”.
Bìa sách “Bên phía nhà Swann”.

Ở một chỗ khác, Jean-Yves Tadié còn nói thêm rằng: “Mọi người trách Marcel Proust không cấu trúc tác phẩm, là người thuộc phái suy đồi, hoặc snob (theo mốt), xa đời sống, viết theo kiểu Bourget nhưng tồi. Về cuốn Bên phía nhà Swann, Rachilde viết trong tờ Mercure de France: “Tôi đã bắt đầu đọc cuốn sách rất nhiệt tình, rồi cuối cùng tôi phải kinh sợ bỏ rơi nó, như thể người ta khước từ uống một loại thuốc ngủ”. Báo chí mắng nhiếc Proust dữ dằn”. Không chỉ thế, ngay khi tập 2 Dưới bóng những thiếu nữ tuổi hoa ra đời, được trao giải Goncourt, cũng không ít các phản ứng xung quanh giải thưởng.

Tờ báo  Populaire viết: “Những cựu binh chúng tôi đã bầu chọn Dorgelès. Marcel Proust đoạt giải là nhờ sự biết ơn của sáu con người được ông ta đãi đằng”. Tờ Tranh luận (Journal des Débats) thì chát chúa: “Một tài năng từ dưới mồ, ít mối liên hệ với những khuynh hướng của thế hệ mới thường ngợi ca vẻ đẹp của chiến đấu, những phẩm chất của ánh sáng”.

Bản in tiếng Pháp Bên phía nhà Swann (Gallimard, Poche, 1992) do Antoine Compagnon chú giải và giới thiệu cũng chỉ ra rất nhiều điều xung quanh việc phát hành cuốn sách. Trong “Lời nói đầu”, A. Compagnon cho biết cả hai Nhà xuất bản Fasquelle và Gallimard đều từ chối bản thảo, Gallimard căn cứ vào nhận xét của André Gide (sau này Gide rất ân hận), còn Fasquelle căn cứ vào bản báo cáo của Jacques Madeleine là người được giao đọc và nhận xét bản thảo.

Sau đây là trích đoạn từ báo cáo: “Đọc hết bảy trăm mười hai trang bản thảo (...) - sau những khổ não khôn cùng vì bị chìm trong những triển khai khôn dò và những sốt ruột tức tối vì không bao giờ trồi lên nổi - ta chẳng có được một khái niệm gì về vấn đề. Tất cả những cái đó để làm gì? Tất cả những cái đó có nghĩa gì? Tất cả những cái đó định dẫn đến đâu? - Không thể biết được gì hết! Không thể nói được gì hết.

Bản báo cáo kèm bức thư nói rõ thêm rằng toàn bộ phần đầu này chỉ là một “sự chuẩn bị”, một “tự khúc thi ca”. Một tập sách dài hơn cuốn tiểu thuyết dài nhất của Zola, mà chỉ là chuẩn bị thì thật quá đáng. Và điều tai hại hơn là sự chuẩn bị này chẳng chuẩn bị gì hết, hơn nữa, cũng chẳng giúp tiên đoán những gì mà chỉ riêng bức thư cho biết. Ngay cả khi được thư mách bảo, ta vẫn tự hỏi không ngừng: Nhưng tất cả những cái đó để làm gì nhỉ? Nhưng có liên quan gì nhỉ? Gì vậy? Cuối cùng là gì vậy? Đây quả là một trường hợp bệnh hoạn, rất rõ nét”.  

Ý thức được khó khăn mà ngay trong giới xuất bản và nghiên cứu Pháp lường trước về phản ứng của độc giả khi tập đầu tiên của Đi tìm thời gian đã mất ra mắt vào năm 1913, nhóm dịch giả tiếng Việt đã rất cẩn trọng. Vốn là những người lao động cần cù trong giảng dạy và nghiên cứu, ngay từ đầu những năm 80 của thế kỉ trước, tôi biết tất cả họ (năm nay đã trên tuổi 80) đều được tiếp xúc với sách báo Pháp của Trung tâm Văn hóa Pháp.

Họ đã đọc và yêu mến Proust, cùng với nhiều nhà văn khác. Lúc này xung quanh kiệt tác Đi tìm thời gian đã mất đã xuất bản rất nhiều sách của các chuyên gia Pháp và nước ngoài. Hơn nữa, nếu không có được 10 năm ở nước ngoài để “đủ khả năng dịch” tác phẩm của một tác gia nào đó (nếu vậy thì làm sao các tác phẩm lớn trên thế giới có thể được phổ cập ở nhiều nước?) ít nhất các dịch giả đã có nhiều tháng đọc sách ở Thư viện Trường Đại học Sư phạm phố Ulm, hoặc thư viện Mitterand, không quên việc đi lại nhiều lần ở các viện Bảo tàng, Nhà kỉ niệm của các nhà văn lớn.

Tuy rất cố gắng, nhưng như một dịch giả trong nhóm vẫn đã nói: “Tiếc rằng chúng ta không dịch được hay hơn”. Để lại đôi chỗ sai là điều đáng trách, nhưng quan trọng hơn, họ cảm thấy ít có bản dịch đầu tiên nào lại có thể chuyển tải được hết “hồn” của tác phẩm và “giọng” của Marcel Proust. Một nhà văn lớn của Pháp, đồng thời cũng là một dịch giả “có hạng” (Yourcena) thì cho rằng: “Sự thực là vẫn có những cái mà bản dịch không thể hiện hết được, trong khi nghệ thuật dịch phải là không để mất một cái gì. Như vậy không bao giờ chúng ta vừa lòng được”.

Việc này giải thích tại sao các tác phẩm lớn như của Proust được dịch nhiều lần ở các nước trên thế giới. Vậy nên cánh cửa vẫn mở rộng đối với tất cả ai yêu thích và có lòng muốn dịch lại một tác giả mà toàn bộ 7 tập sách của ông được gọi là “Tiểu thuyết - Mẹ của văn học Pháp thế kỉ XX”.

Trần Hinh

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?