Nếp, tẽ, rẽ, bộng…

Thiệt tức cười, ngày xưa khi mừng đám cưới của đôi bạn trẻ, ông Thủ Thiệm - một “trạng cười” nổi tiếng ở Quảng Nam ưa nói lái, chỉ viết tuyệt đẹp như phượng múa rồng bay hai chữ: “Mèo đứng”. Mà trái nghĩa với đứng, đôi khi còn là nằm. Chẳng hạn, một đứa trẻ sinh ra đời, tía má/ cha mẹ/ thầy u nào cũng mong muốn nó lúc đến tuổi trưởng thành “Có đôi có đũa”- thành ngữ này nhằm chỉ về việc dựng vợ gả chồng. Vì lẽ đó, khi nói đến đũa đứng/ đũa nằm, ta còn hiểu ám chỉ về sự tréo ngoe, ngăn cách giữa chàng/ nàng; trai/ gái/ vợ/ chồng.

Đứng/ nằm là từ trái nghĩa. Không có thế, còn có đứng/ ngồi. “Khi khoan chửa chán thời khi nhặt/ Đánh đứng không thôi lại đánh ngồi” (Hồ Xuân Hương); hoặc “Con lợn khóc đứng khóc ngồi/ Mẹ ơi đi chợ mua tôi đồng riềng”. Có thể nói, trong tiếng Việt, các từ trái nghĩa cực kỳ phong phú chẳng hạn, một khi nói về giới tính nói chung, ta có những “cặp đôi hoàn hảo” như nam / nữ; trai/ gái; đàn ông / đàn bà; trống / mái; đực / nái; đực / sề; đực / cái… Một người bảo: “Dạo này tớ thất nghiệp, chỉ bữa đực bữa cái cho qua ngày”, thì đực/ cái lại chỉ về bữa ăn mà bữa có/ bữa không, bữa đỏ lửa/ bữa treo niêu, bữa cơm nhà/ bữa cơm bụi...

Nếp, tẽ, rẽ, bộng… -0
Bữa ăn của người Việt đầu thế kỷ XX.

Mà, trong cái sự ăn hàng ngày, đối với người Việt vẫn chọn “Cơm tẻ mẹ ruột”. Vậy, ta hãy quan sát trường hợp, khi chở người vợ mới cưới dạo phố, nhìn thấy câu khẩu hiệu: “Mỗi cặp vợ chồng hãy nên sinh đủ 2 con”, người chồng hớn hở: “Này mình, có nếp có tẻ thì nhà mình hạnh phúc lắm đây”. Thì nếp / tẻ lại hàm nghĩa chỉ con trai / con gái, thằng cu/ cái đĩ... “Có nếp mừng nếp, có tẻ mừng tẻ” là vậy. Nếu chỉ sinh con gái, lại có cách nói: “Chỉ rặt một lũ vịt giời / vịt trời”. Ở Huế, người ta còn dùng từ “tằm” (chỉ con trai) “bẹp” (chỉ con gái). Khi chứng kiến cảnh hạnh phúc này, biết đâu có ai kia thở dài não ruột:

Em đang vút nếp xôi xôi

Nghe anh có vợ thúng trôi nếp chìm

Tội nghiệp quá. Nhưng về ngữ nghĩa, à, câu này có gì khiến ta ngờ ngợ, phải nấu xôi thì mới chính xác chứ? Không. Cùng là hạt thóc “Có thóc mới bóc ra gạo” - dùng làm lương thực chính, muốn thế, phải trải qua những công đoạn như “Giã ơn cái cối cái chày/ Đêm khuya giã gạo có mày có tao”, “Ăn quả nhớ kẻ trẻ trồng cây/ Ăn gạo nhớ kẻ đâm xay giần sàng”.

Ông bà ta bảo: “Muốn ăn thì lăn vào bếp”. Với “gạo tẻ”, ta dùng từ “nấu” - một động tác hết sức quen thuộc diễn ra thường xuyên trong ngày: “Giàu một ngày ba bữa, khó đỏ lửa ba lần”. Tuy nhiên, ta vẫn còn nghe câu nói quen thuộc như thổi cơm/ thổi xôi. Sở dĩ như thế vì ngày xưa do nấu bằng củi, than, thông thường người ta đặt ống tre vào miệng bếp lò để thổi hơi vào đó cho lửa phừng lên, bởi thế có câu: “Đũa trui đũa bếp có đôi/ Cái ống thổi lửa mồ côi một mình”. “Thổi” nhằm chỉ động tác: “Chụm miệng mà phì hơi cho lửa cháy lên để làm chín các đồ ăn” - theo “Việt Nam tự điển” (1931). Nay, dẫu nấu bếp dầu lửa, bếp gas không cần dùng ống thổi nhưng ta vẫn dùng từ thổi cho thổi cơm/ thổi xôi. Rõ ràng, từ động tác “thổi”, còn hiểu là “nấu”, “Đại từ điển tiếng Việt:” (1999) đã ghi nhận.

Với tẻ/ gạo tẻ còn có đồng âm, thí dụ, “Tẻ vui cũng một kiếp người” (Truyện Kiều) thì tẻ trái ngược với vui là buồn tẻ/ tẻ nhạt/ tẻ ngắt/ nhạt nhẽo…

Với người Việt khi ăn, còn lựa chọn: “Khôn ăn cái, dại ăn nước” thì cái lại là vật đặc, ngon nhất trong thức ăn nước. Nước thì bao giờ cũng loãng/ lỏng, ngoại trừ lúc đông cứng do làm lạnh. “Dốt đặc hơn chữ lỏng” là ngụ ý chẳng thà (ai đó) “Dốt đặc cán mai” còn hơn chỉ mới i tờ, lõm bõm nhưng cứ lên mặt ta đây “trên thông thiên văn dưới tường địa lý” nhưng chẳng ra đâu vào đâu. Dù lỏng/ loãng đồng nghĩa tùy phương vùng miền nhưng “Lạt mềm buộc chặt” thì chặt trái nghĩa với lỏng, chứ không thể dùng loãng.

Loãng thường cặp kè với đặc. Một người vừa thưởng thức chén trà, nhận xét: “Trà móc cau à? Đặc quá”. Chén trà đặc ấy, với nước pha lần đầu đậm đặc, còn gọi nước cốt. Cũng nhúm trà ấy, càng về sau, nếu cứ châm thêm nước sôi vào, trà càng nhạt gọi nước dão - “thường nói về nước chè đã lợt rồi, hết mùi chè” - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895).  Từ dão vốn “đặc sản” của người miền Nam chăng?

Có điều lạ, từ điển ngoài Bắc như “Việt Nam tự điển” (1931),  “Từ điển tiếng Việt” (1977) không ghi nhận từ dão. Thậm chí “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) dão xếp chung với dạo - theo nghĩa dạo/ dạo mát/ đi dạo. Mà dạo cũng là rảo, chẳng hạn một cậu học trò kể: “Cơm nước xong, trời mát, tía tôi dẫn tôi rảo một vòng quanh xóm”. “Từ điển từ ngữ Nam Bộ”, Huỳnh Công Tín có nêu thí dụ về nghĩa thứ 2 của dão: “Nói mà không chịu dão tai ra mà nghe, rồi có khi làm lại làm bậy”. Thế thì, trong ngữ cảnh này, từ dão lại hàm nghĩa dỏng/ dóng, chẳng hạn, người bực bội: “Tớ nói lần chót nè, cậu dóng tai mà nghe cho rõ”. Nghe xong, người kia vẫn phùng mang trợn mắt, gân cổ cãi lại cho bằng được; người này càng bực bèn nửa đùa nửa thật: “Cậu chỉ cãi dóng là giỏi”. Cãi dóng là cãi ra làm sao?

Không chỉ đặc trái nghĩa với loãng mà tùy ngữ cảnh còn có thể là rỗng. Sau khi trò chuyện, gặp gỡ, một người nhận xét: “Ối dào, tay đó dốt đặc cán mai”, tức rất dốt. Cán mai thường được bằng loại cây đặc ruột, hoàn toàn không gì có thể chen/ chêm /nêm vào trong được nữa. Trái ngược với sự đặc ruột đó lại là rỗng. “Kìa ai lào lạo ngoài da/ Mà trong rỗng tuếch như hoa muống rừng”. Rỗng, rỗng tuếch rỗng toác, rỗng không, rỗng hoác là không có phần lõi, không có gì bên trong. Dù thế, có kẻ lại “Thùng rỗng kêu to”, nói nhiều nhưng chẳng có thực lực, khoác lác chẳng khác gì “Ba voi không được bát nước xáo”. Mà rỗng cũng đồng nghĩa với bộng. “Chà, hắn ta nói nhiều nhưng bộng ruột”, câu này, ngụ ý dù nói huyên thuyên nhưng trong bụng chẳng có chữ nghĩa gì; nhưng cũng hàm nghĩa bụng đói, chẳng có gì bỏ vào bụng.

Trở lại với câu ca dao: “Nghe anh có vợ thúng trôi nếp chìm”, nói tắt một lời đã “xong phim”. Tục ngữ có câu: “Gạo nấu thành cơm”, ngụ ý mọi việc đã xong, đã đâu vào đó, không còn có cợ hội thay đổi gì sất, chẳng khác gì “Ván đã đóng thuyền”. Sở dĩ xôi xuất hiện trong ngữ cảnh này bới lúc đãi đằng, đình đám theo thói tục vẫn thường có xôi. Muốn có xôi, gạo nếp phải xôi/ xôi xôi; còn có từ tương đương là đồ/ đồ xôi, hông/ hông xôi. Hông trong khoảng bao lâu? Ngày xưa khi ước lượng về thời gian, ở ngoài Bắc, nhà thơ Nguyễn Bính viết: “Láng giềng đã đỏ đèn đâu?/ Chờ em ăn dập miếng trầu, em sang”; trong Nam, lại nói “Chín hông xôi” là chỉ khoảng thời gian không lâu - theo “Đại Nam quấc âm tự vị” (1895).

Xôi là từ đồng âm giữa động từ và danh từ, vì thế ta phân vân chút tẹo khi nghe câu “Em đang vút nếp xôi xôi” cũng phải thôi. Không những thế, ta hãy quan sát từ xôi trong một vài ngữ cảnh: “Mật xôi xuân sắc hoa ngàn đóa" (Hồng Đức quốc âm thi tập), “Sinh xôi nảy nở” (tục ngữ) - xôi lại có nghĩa là “dô ra, nở ra”- “Việt Nam tự điển” (1931) giải thích. Tuy nhiên với câu “Bờ xôi ruộng mật” lại không phải “dô ra, nở ra” mà chính là “xôi”, bởi có như thế mới xứng với “mật” trong phép đối xứng của cấu trúc câu tục ngữ. Xôi và mật là chỉ ruộng đất phì nhiêu, màu mỡ dễ cày cấy thu hoạch mùa vàng, năng suất cao.

Hẳn ai cũng biết, trước lúc thổi cơm/ thổi xôi thì dùng động tác “vo”, chẳng hạn, ca dao có câu: “Cảm ơn cái cọc cầu ao/ Đêm khuya vo gạo có tao có mày”  là đổ gạo/ nếp vào rổ/ rá rồi dùng nước xát kỹ cho sạch. Vậy, tại sao ở đây lại là vút/ vút nếp? Về từ vút, ta nhớ đến câu câu thành ngữ “Mài nanh trổ vút”. Vút là móng của loài thú, thế nhưng từ điển hiện này đã ghi là vuốt.

Sự thay đổi này diễn ra từ lúc nào? Trong Nam, từ “Đại Nam quốc âm tự vị” (1895) đến “Việt Nam tự điển” (1970) của Lê Văn Đức còn ghi nhận “vút”; ngoài Bắc, “Việt Nam tự điển” (1931) có từ vút: “xem vuốt” nhưng đến “Việt Nam từ điển” (1977) chỉ ghi nhận “vuốt”. Câu thành ngữ  “Mài nanh trổ vút” - hiểu theo nghĩa là quyết định ra tay làm dứt điểm một vụ việc nào đó, không chần chừ gì nữa.

Trở lại với câu “Em đang vút nếp xôi xôi”, thì vút/ vút nếp có nghĩa là vo / vo nếp là chà xát, đãi cho sạch, chứ làm cẩu thả ất ơ, không khéo: “Vì đâu nên nỗi chồng chê/ Cơm vo một nước, gạo dê một lần". “Dê”, có từ tương đương là “rê”, là đổ từng vốc gạo từ cao xuống thấp cho gió thổi trấu cám, chứ không vo cẩn thận. Nếu bạn về xứ Nghệ cũng nghe từ vút, thí dụ trong lúc lợp nhà, có người bảo: “Vút tranh lên mái nhà”.  Vút này được hiểu là vất, vứt, ném, liệng…

Không chỉ có thế, thí dụ, cái áo đang mặc có chỗ bẩn, người ta dùng nước vò sạch chỗ ấy, chứ không phải giặt cả cái áo, ngày xưa dùng từ vút/ vút áo, Tuy nhiên, ngoài Bắc còn dùng từ “gột”, ở miền Trung và trong Nam gọi là “gụt”. Nói chi tiết thế này để thấy rằng, để hiểu tiếng Việt chắc chắn không thể không quan tâm đến phương ngữ vùng miền.

Lê Minh Quốc

Các tin khác

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Vinh quy ắt hẳn rước tùng xòe

Thư thả đọc thơ, tình cờ bắt gặp bài thơ "Thuở trước" của của nhà thơ Nguyễn Bính, hình ảnh "vinh quy bái tổ" đã để lại dấu ấn khá sâu sắc: "Một quan là sáu trăm đồng/ Chắt chiu tháng tháng cho chồng đi thi/ Chồng tôi cưỡi ngựa vinh quy/ Hai bên có lính hầu đi dẹp đàng/ Tôi ra đón tận gốc bang/ Chồng tôi xuống ngựa cả làng ra xem...".
Nghĩ rằng, trong bất cứ thời đại nào, muốn chọn lấy những người tài giỏi ra giúp nước thì không có phương thức nào tối ưu hơn việc chăm lo giáo dục cho toàn dân và tổ chức thi cử công bằng.

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Phim lịch sử từ “khó bán” thành “đắt khách”

Từng bị xem là dòng phim chỉ có lỗ, chủ yếu sản xuất theo đơn đặt hàng của Nhà nước, vài năm gần đây, phim lịch sử đang “lội ngược dòng” đầy ngoạn mục. Ngoài các hãng phim nhà nước, nhiều hãng phim tư nhân cũng tấp nập sản xuất phim lịch sử.

Lắt léo... lái lại liền

Lắt léo... lái lại liền

Một trong những thú chơi chữ của người Việt còn có nói lái. “Nói bằng cách giao hoán âm đầu, vần và thanh điệu của hai âm tiết trong một tổ hợp để tạo nên nghĩa khác hẳn với nghĩa ban đầu của tổ hợp: Cách nói đầu tiên nghĩa tiền đâu là lối nói lái trong tiếng Việt”, “Đại từ điển tiếng Việt” (1999) giải thích. Có nhiều cách nói lái như lái dĩa, lái giọng, lái i-tờ, lái tộ, lái vận… mà người chơi cũng phân chia “đẳng cấp” khác nhau, thí dụ “lái dở” và “lái giỏi” - lưu ý hai cụm từ này, ta chớ… nói lái.

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Người giữ lửa trên đỉnh sương mù

Ở vùng núi cao, đá là thứ già nhất. Người Mông bảo đá không có miệng nhưng đá biết kể chuyện. Lý Hoàng Cung là người biết nghe đá kể. Gần 30 năm khoác sắc phục Công an, chị đi qua bao bản làng, bao vui buồn của đồng bào mình. Công việc cho chị sự vững vàng, thơ giữ lại những rung động. Vì thế, giữa những đêm gió núi ở Lao Chải, chị vẫn nhận ra một nụ đào vừa nở hay ánh đèn khuya từ một bản xa để lặng lẽ cất thành thơ. Nữ Trưởng Công an xã Lao Chải (Lào Cai) giữ bình yên bằng trách nhiệm và giữ vẻ đẹp của cuộc sống bằng cảm xúc.

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Khi điện ảnh tấn công vào nỗi sợ tập thể

Có lẽ, đã đến lúc chúng ta phải nói với nhau một cách thật cẩn trọng và đầy quan sát về phim kinh dị Việt Nam. Một nền điện ảnh trưởng thành phải có cả những vùng tối để bước vào. Nhưng nếu vùng tối ấy chỉ được dựng lên để khán giả giật mình, còn người làm phim thì mãn nguyện vì rạp đông, tôi bắt đầu thấy bất an. Không phải là cho một bộ phim. Mà cho cái thói quen dễ dãi đang len vào thị hiếu.

Những con đường quanh co bên hàng rào đá

Èze - xứ sở của đá

Nói tới nước Pháp, người ta thường trầm trồ trước những kiến trúc tráng lệ luôn thách thức vượt thời gian. Nhưng ẩn sau vẻ hào nhoáng ấy, vẫn có những ngôi làng cổ giữ được nét đẹp nguyên sơ, mà nếu đặt chân đến, du khách như lạc vào một vùng ký ức xưa cũ. Èze chính là một trong những ngôi làng đó.

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

Dăm chuyện nhặt ở Bắc Ý

"Đến Ý rồi mới cảm nhận được rằng chỉ một ánh nhìn thôi cũng như đã đi qua ngàn năm lịch sử". Có người lại nói nước Ý ngày nay giống như một bức tranh thêu hai mặt tuyệt mỹ. Một mặt là những lâu đài, cung điện, nhà thờ và đền đài, lăng tẩm cổ xưa, mang hơi thở ngàn năm bên cạnh các hồ lớn, dòng sông; một mặt lại là ánh đèn điện rực rỡ của thành phố hiện đại đang không ngừng chuyển động.

Đã theo nghề thì hãy viết đi

Đã theo nghề thì hãy viết đi

“Trước khi viết một tập tiểu thuyết mới, anh có những chuẩn bị gì?”.
Tôi thường hỏi bạn bè trong những lúc ngồi tán phét chuyện trên trời dưới đất. Có lần, nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn bảo, đại khái, chẳng chuẩn bị gì cả, cứ bắt tay vào viết, trong quá trình viết, các tình tiết xảy ra thì cân nhắc, xử lý. Cũng tựa như đứa trẻ nhảy xuống hồ, dù chưa biết bơi. Thực tế của công việc lúc ấy tự khắc khiến mình phải làm gì.

Một mỏ khai thác khoáng sản khổng lồ tại Zambia. Ảnh: First Quantum Minerals

Châu Phi với bài toán thoát “bẫy tài nguyên”

Khoáng sản châu Phi đang trở thành trung tâm của một cuộc tranh giành địa chính trị chưa từng có. Trong khi các cường quốc đổ vốn vào lục địa này, liệu châu Phi có thể tận dụng thời thế để trở thành bên hưởng lợi thực sự từ chính nguồn tài nguyên của mình hay không?

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Công an TP Đà Nẵng và hành trình tìm lại tên cho liệt sĩ

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng với không ít gia đình, nỗi đau chưa thể nguôi ngoai khi có người thân hy sinh mà tên tuổi, hài cốt vẫn nằm lại nơi chiến trường xưa hoặc chưa được xác định danh tính. Những ngày này, Công an TP Đà Nẵng đang thực hiện một hành trình vô cùng đặc biệt: Thu nhận mẫu ADN cho thân nhân liệt sĩ trong "Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ".

Về ngôi nhà của dế

Về ngôi nhà của dế

Đó là một ngôi nhà xưa thân quen cũ kỹ nằm trong ngõ Đoàn Nhữ Hài. Nhà văn Tô Hoài (1920-2014) mua ngôi nhà này (năm 1957) từ tiền giải thưởng tập “Truyện Tây Bắc”. Một thời, cánh văn trẻ chúng tôi vẫn thường rủ nhau tới ngôi nhà của Tô Hoài vì ông rất thân thiện. Giờ đây, ngôi nhà trở thành không gian lưu niệm cuộc đời và sự nghiệp văn chương Tô Hoài. Con trai ông, nhà báo Phương Vũ đặt tên Nhà lưu niệm đúng với cái tên mà mọi người vẫn gọi: Tô Hoài House (Ngôi nhà Tô Hoài).

Chương trình âm nhạc “Mây lang thang” bị cho là đã nhiều lần vi phạm bản quyền trên môi trường số

Khoảng trống bản quyền âm nhạc ở Việt Nam

Trong nhiều năm qua, thị trường âm nhạc số Việt Nam phát triển nhanh nhưng việc vi phạm sở hữu trí tuệ tràn lan. Nhiều đơn vị kiếm tiền từ hàng triệu lượt xem mà tác giả, nhạc sĩ hoặc chủ sở hữu bản ghi không hề biết tác phẩm của mình bị khai thác như thế nào.

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Cùng vui với “một thứ văn rất vui”

Trong nghề cầm bút, sống bằng con chữ, lấy chữ làm phương tiện để trình bày suy nghĩ, nhân sinh quan của mình, tôi dám quả quyết, một khi viết những trang văn tạo ra tiếng cười là điều không bao giờ dễ dàng. Chính vì thế khi nhìn lại tiến trình phát triển văn học Việt Nam, kể từ năm 1930 đến nay, ta thấy số lượng tác giả viết văn cười, trào phúng, châm biếm chỉ có thể đếm trên đầu ngón tay. Rất ít ỏi.

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Việt Nam làm gì để trở thành điểm đến các sự kiện văn hóa và biểu diễn thế giới?

Trong vài năm gần đây, Việt Nam bắt đầu xuất hiện trong các cuộc thảo luận quốc tế như một “điểm đến mới nổi” của công nghiệp văn hóa và kinh tế sự kiện. Từ sự bùng nổ của các concert âm nhạc, chương trình giải trí thu hút hàng triệu người theo dõi, đến việc đầu tư hàng loạt nhà hát, trung tâm triển lãm và tổ hợp sáng tạo quy mô lớn, Việt Nam đang đứng trước một cơ hội đặc biệt: trở thành trung tâm mới của các sự kiện văn hóa và biểu diễn trong khu vực.

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Đến Verona thăm nhà nàng Juliet

Những người yêu văn học, điện ảnh, sân khấu thì đều biết hai nhân Romeo và Juliet trong vở bi kịch của nhà văn Anh William Shakespeare. Từ trong kịch, phim, Romeo - Juliet đã trở thành hình ảnh biểu tượng cho những cặp tình nhân trẻ đang trong giai đoạn chớm nở và mãnh liệt. Vì thế, đến thành phố Verona (nằm trong tỉnh cùng tên thuộc vùng Veneto, miền bắc nướcÝ) lần này, tôi quyết định đến thăm ngôi nhà của nàng Juliet.

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Công thức chiến thắng cuộc đua phòng vé của phim Việt

Năm 2025, điện ảnh Việt có 55 phim ra rạp thì năm 2026, con số này được dự báo tăng lên khoảng 70 - 80 phim. Trong bối cảnh phim Việt ra rạp ngày càng dày đặc, cuộc cạnh tranh căng thẳng giữa các phim không chỉ bằng nội dung mà còn ở khả năng giành suất chiếu và tạo hiệu ứng truyền thông ngay từ những ngày đầu ra mắt.

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Lưu giữ ký ức dân tộc qua những tác phẩm văn chương

Cuộc gặp gỡ mang tên "Thời tiết của ký ức" không đơn thuần là một buổi ra mắt sách. Đó là một cuộc hội ngộ đặc biệt của "ngũ vị văn chương" - 5 cá tính văn chương độc bản: Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập. Nói như nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, không chỉ là trang viết, họ là "những người lưu giữ ký ức của dân tộc". Trong số 5 tác giả này, tôi ấn tượng với 3 người: Trung Trung Đỉnh, Phạm Ngọc Tiến và Nguyễn Trọng Tín.

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Nghề cầm bút là lúc nào cũng viết

Sinh thời nhà thơ Xuân Diệu có "tự giới thiệu" về địa chỉ nhà của mình ở Hà Nội như sau: "Nhà tôi 24 Cột Cờ/ Ai thương thì đến, hững hờ thì qua". Còn "trung niên thi sĩ" Bùi Giáng khi về cư ngụ ở Xóm Gà (Bình Thạnh) cũng có lúc ngẫu hứng giới thiệu với các bạn văn chương rằng: "Gặp nàng, nàng ở Già Lam/ Gặp cô, cô ở Lê Quang Định đường/ Nhà thuốc tây, gái du dương/ Bốn tám hai (482) hẻm tôi thường vô ra".Với những thông tin trên ắt người yêu thơ có thể tìm ra chỗ ở của ông một cách dễ dàng. Còn nhà văn Sơn Nam do không làm thơ nên khi ai hỏi nhà của mình thì ông chỉ đáp: "Cứ đến nhà truyền truyền thống quận Gò Vấp hỏi, thì có người dẫn vào nhà".

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Cơm áo không đùa với danh hiệu nghệ sĩ

Với phần đông công chúng, nghệ sĩ sân khấu và điện ảnh là những người sống giữa ánh hào quang, được tôn vinh bằng tài năng và danh tiếng. Nhưng phía sau tấm màn nhung, không ít người đang đối diện với một thực tế trái ngược, thu nhập bấp bênh, lương thấp và một câu hỏi được đặt ra: liệu nghệ thuật biểu diễn có là một nghề đủ để sống?

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Tấm bia đặc biệt giữa Paris

Ngày 25/4/2026, Kiều bào Việt tại Pháp cùng bạn bè quốc tế yêu chuộng hòa bình đã cùng tham gia Lễ đặt bia Tưởng niệm các nạn nhân Việt Nam bị nhiễm chất độc da cam trong Công viên Choisy, thuộc quận 13 thành phố Paris.