Những tiền nhân lạc thời

Bài 3: Nguyễn Trường Tộ: “Một kiếp sa chân muôn kiếp hận”

Trong bài Minh Mạng, bậc minh quân lỡ làng ở số báo trước, chúng ta đã nói đến sự trì trệ của tư tưởng Nho gia trong vấn đề coi trọng nông nghiệp mà hạ thấp thương nghiệp, qua đó khiến một hoàng đế vừa có tài  năng lại vừa có tham vọng như Minh Mạng đi ngược với sự vận động của nhân loại trong thế kỷ 19. 

Nhưng còn một điểm thứ hai nữa của Nho gia, đấy chính là đã tạo nên một tầng lớp trí thức lạc hậu chỉ giỏi thơ phú mà xa lạ với kỹ nghệ, vật lý, khoa học tự nhiên. 

“Cây nào thì quả đó”, việc sinh ra một tầng lớp quan lại khép mình với thế giới, chỉ nói với nhau các chuyện Nghiêu, Thuấn trong một giai đoạn Pháp, Mỹ, Anh đang đến ngoài khơi đã đẩy đất nước vào thế tù đày của tư duy. Nhưng trong đêm tối tù đày ấy bỗng hiện ra ánh điện, dù lập lòe, dù sớm tắt nhưng vẫn còn cháy mãi đến ngày sau: danh sĩ Nguyễn Trường Tộ.

Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1830 tại Hưng Nguyên, Nghệ An. Trưởng thành trong một gia đình Công giáo đã giúp Nguyễn Trường Tộ có cơ hội được tiếp xúc với giáo dục phương Tây qua những vị giám mục người Pháp dạy dỗ ông từ nhỏ.

Bên cạnh đó, ông lại học chữ Hán với các vị tú tài ở trong làng. Sự dung hòa này giúp ông vừa có vốn hiểu biết về Nho gia, vừa hiểu biết về Tây học. Tức là một sự kết hợp của cả Khổng giáo lẫn Kito giáo ở trong một con người. 

Chính điều đó đã giúp ông về sau, khi nhận định các vấn đề ở thời đại Tự Đức một cách minh bạch nhất: có tinh thần của kẻ sĩ Nho học vì dân, vì nước, lại có tinh thần đổi mới và coi trọng tự do của người theo đạo Chúa. 

Năm 1859, Nguyễn Trường Tộ có dịp tháp tùng các linh mục Pháp sang các nước châu Âu như Italia, Pháp. Tại những quốc gia đó, ông đã nhìn thấy những chiếc đèn không cần thắp dầu vẫn sáng, những chiếc xe chạy mà không cần con bò, con ngựa kéo đi, và tận mắt so sánh được khoảng cách của đất nước mà mình sinh ra lớn lên, với chính những vùng đất xa xôi nhưng văn minh mà người dân Việt Nam ngày đó không hề biết đến. 

Ông cũng có dịp tới Hong Kong, Quảng Châu, để có thể so sánh được với sự phồn vinh của những thương cảng châu Á khi có sự xuất hiện của giao thương phương Tây, với chính Việt Nam khi “bế quan tỏa cảng”. 

Trở về nước, vị trí của Nguyễn Trường Tộ là “cây cầu” nối giữa Pháp với triều đình Tự Đức. Những ngày tháng đó, Nguyễn Trường Tộ chính là nhà ngoại giao, là người thông ngôn giữa hai phía. 

Với vị thế đứng giữa đó, Nguyễn Trường Tộ đã đề xuất một phương án ngoại giao cực kỳ khéo léo cho Tự Đức gồm 2 bước: đầu tiên là nghị hòa với thực dân Pháp, sau đó là hợp tác với tất cả các nước Tây phương ngoài Pháp để quân bình ảnh hưởng của nước này đối với nước kia, qua đó lợi dụng sự kình địch quốc tế mà giữ được nền độc lập. 

Cho đến bây giờ, chúng ta đã biết rằng, đó chính là tư tưởng đúng, cũng chính là “cách chơi” của nước nhỏ với các nước lớn. Nhưng ngày ấy, Tự Đức đã không nghe ông và đất nước đã bị Pháp “nuốt” từ từ.

Một lớp học chữ Nho vào khoảng năm 1895. Ảnh: T.L.
Một lớp học chữ Nho vào khoảng năm 1895. Ảnh: T.L.

Từ năm 1863 đến năm 1871, Nguyễn Trường Tộ gửi không dưới 15 bản điều trần lên triều đình để yêu cầu cải tổ và canh tân đất nước. 

Riêng đầu tháng 5 năm 1863, Nguyễn Trường Tộ gửi 3 bản điều trần lên Triều đình Huế là: Tế cấp luận, Giáo môn luận và Thiên hạ phân hợp đại thế luận. 

Có những cải tổ ông viết từ thế kỷ 19, mà thế kỷ 21 chúng ta vẫn đang làm, đơn cử như “giảm số công chức và tăng lương để tránh nạn tham nhũng” hay “in báo, dịch sách của châu Âu và đưa sinh viên ra nước ngoài đào tạo”, “lập chế độ bảo hộ mậu dịch để tạo thuận lợi cho việc kỹ nghệ hóa”... 

Trước sau như một, ông luôn kêu gọi đất nước phải tự lực tự cường, phải đổi thay nội tại, rồi hướng về đối ngoại ở vị thế cao hơn. Ông mang một tư tưởng vượt thời đại, là một tiền nhân lạc thời khá xa của thế kỷ 19.

Trong di thảo số 27, ông viết những câu như dốc từng gan ruột để cảnh tỉnh lớp sĩ phu trong triều: “Phàm kẻ trong thiên hạ là người không phải không có lầm lạc ban đầu, mà là người biết thay đổi hành động, biết sửa điều sai thành đúng đắn, không xấu hổ vì phải sửa đổi cái cũ, mà xấu hổ vì không làm được điều gì mới, không nhìn lui dĩ vãng mà chuyên mưu việc tương lai, không nghĩ đến bảo toàn tên tuổi riêng mình mà lo lợi ích chung cho đất nước, thế mới gọi là trí...”. 

Những điều mà Nguyễn Trường Tộ làm đã đánh động ít nhiều suy nghĩ của Tự Đức, nhà vua đã điều ông đi sứ ở Pháp quốc vào năm 1866, sau đó cử ông chủ nhiệm dự án khai thác mỏ. 

Nhưng khi mà dấu hiệu về sự cải tổ vừa nhen nhóm, như báo hiệu một bình minh mới thì đã bị dập tắt chỉ sau đó một năm. Những biến động ở trên chiến trường với Pháp đã khiến hành trình của ông bị gián đoạn, và quan trọng hơn, đấy là lúc tầng lớp văn thân bảo thủ theo tư tưởng 

Khổng giáo trong triều đình lên tiếng, đẩy Tự Đức đang vào thế từ sự do dự đi tới sự bác bỏ các canh tân của Nguyễn Trường Tộ.

Thế kỷ 19 ở Việt Nam, các nhà Nho vẫn xem Tây Âu là kẻ thù, họ giương cao ngọn cờ “diệt Công giáo”, cứu nguy cho nhà nước. Tầng lớp văn thân đã đi lên đỉnh cao quyền lực bằng Tứ thư, Ngũ kinh... làm sao có thể thay đổi và thích ứng được với thiên văn học hay địa lý, thuế khóa, tài chính mà Nguyễn Trường Tộ đưa ra? 

Chưa kể, những vị đại thần quan trọng trong triều đại Tự Đức như Trương Đăng Quế hay Nguyễn Tri Phương đều thấm nhuần sâu sắc học thuyết Nho giáo, có sự gắn bó về quyền lợi của bản thân với sự ổn định trong chế độ quân chủ cùng các nguyên tắc Nho giáo làm nền móng trong hệ tư tưởng phong kiến, còn vua Tự Đức lại không phải là người quyết đoán với tầm nhìn xa.

Những yếu tố đó kết hợp lại đã khiến các cải cách của Nguyễn Trường Tộ không thể thực hiện được.

Ở một góc độ nào đó, những cải cách của Nguyễn Trường Tộ cũng có sự hạn chế là không đánh giá được đúng mức sự xáo trộn xã hội, vấn đề về tiền bạc, tài chính cho các cải cách này, hay sự thiếu thỏa thuận trong khuôn khổ với chính những vị đại thần theo Khổng giáo có tiếng nói trong triều. Tuy nhiên, nó chỉ là cái hạn chế nhỏ so với tầm nhìn chật hẹp nhưng kiêu ngạo của tầng lớp sĩ phu ngại thay đổi. 

Bởi cùng thời đại với ông lúc đó, bên Nhật Bản, một người đàn ông chỉ sinh sau Nguyễn Trường Tộ 5 năm, khi đưa ra các tham luận về canh tân đất nước thì đã được sử dụng, đó là Fukuzawa Yukichi - kiến trúc sư cho sự đổi mới nước Nhật thời Duy Tân Minh Trị. Than ôi, Việt Nam cũng có một Fukuzawa Yukichi chứ sao không? Chỉ là chúng ta đã không sử dụng mà thôi!

Nguyễn Trường Tộ không chỉ là nhà ngoại giao nhìn thấu vấn đề thời đại mà ông còn là kiến trúc sư, nhà kinh tế, nhà văn hóa, nhà khoa học kỹ thuật... 

Tu viện Saint Paul mang phong cách kiến trúc cổ điển Pháp, do kiến trúc sư Nguyễn Trường Tộ thiết kế.
Tu viện Saint Paul mang phong cách kiến trúc cổ điển Pháp, do kiến trúc sư Nguyễn Trường Tộ thiết kế.

Nếu có dịp đến TP HCM và đi ngang tòa tu viện Saint Paul ở số 4 Tôn Đức Thắng, quận 1, chúng ta sẽ thấy một công trình mang phong cách kiến trúc cổ điển Pháp, với những bức trang trí công phu còn tồn tại đến tận hôm nay.

Công trình ấy do kiến trúc sư Nguyễn Trường Tộ thiết kế, dấu ấn cuối cùng còn sót lại của ông. Tháng 7 năm 1864, Nguyễn Trường Tộ bị tai nạn té gãy vùng xương chậu trong khi xem xây cất giáo đường. Vậy nhưng, “Dù thân có bị liệt, nằm lưng xuống dưới, ta vẫn phải có bổn phận viết thư gửi đức vua...”. 

Thư của ông vẫn đều đặn gửi lên vua Tự Đức với ước vọng phò vua, giúp dân. Những năm cuối đời, trên giường bệnh, lòng ông vẫn ngóng đợi hai tiếng cải cách. Bài thơ ông viết có câu:

“Mặt trời cho dẫu không soi đến
Hướng dương xin vẫn nếp hoa quỳ”.

Ngày 22 tháng 11 năm 1871, Nguyễn Trường Tộ qua đời ở tuổi 43. Hôm nay, gọi tên ông, không đơn thuần chỉ là những điều tiếc nuối, mà đó còn là sự kính trọng, khâm phục về một lòng yêu nước nồng nàn nhưng cực kỳ sáng suốt.

Thương cho một bộ óc đi trước thời đại đã tuyệt vọng trong mộng cải cách đất nước, hệt như 2 câu thơ cuối cùng mà ông viết trước ngày nhắm mắt:

“Một kiếp sa chân, muôn kiếp hận
Ngoảnh đầu cơ nghiệp ấy trăm năm...”.

Dũng Phan

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?