Kỷ niệm 131 năm ngày sinh chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2021)

Bác Hồ trong trái tim nhạc sỹ

Lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn là nguồn cảm hứng sáng tác cho nhiều thế hệ nhạc sĩ. Suốt chặng đường lịch sử hơn nửa thế kỷ qua, hình tượng Bác Hồ đã nổi bật trong rất nhiều bài hát. Những nhạc sĩ nổi tiếng có nhiều thành tựu trong sự nghiệp sáng tác đều trăn trở tư duy viết về Người. Và họ đã để lại những tác phẩm có giá trị nhất góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của công chúng.

Một trong những bài hát nổi tiếng đầu tiên viết về Người là bài “Biết ơn cụ Hồ Chí Minh” của Lưu Bách Thụ (ký tên Thụ Trang) ra đời từ trước Cách mạng tháng 8/1945 đã được nhân dân đón nhận nồng nhiệt bởi tính quần chúng, dễ hát, dễ thuộc của một ca khúc thuộc thể loại chanson populaire (ca khúc quần chúng): “Dân Nam ơi biết ơn Cụ Hồ đời đời. Bao nhiêu năm sống trong nguy nan điêu linh…”. 

Bác bắt nhịp bài ca “Kết đoàn” tại vười hoa Bách Thảo (Hà Nội) tối 3/9/1960.
Bác bắt nhịp bài ca “Kết đoàn” tại vười hoa Bách Thảo (Hà Nội) tối 3/9/1960.

Chỉ sau đó một thời gian ngắn, trong những ngày đầu nước sôi lửa bỏng của cuộc kháng chiến chống Pháp, hình ảnh vị lãnh tụ vĩ đại lại hịên ra như một đấng cứu tinh trong những ca khúc của nhạc sỹ Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Văn Cao (cùng có tên “Ca ngợi Hồ Chủ tịch”). 

Những bài hát về Bác trong giai đoạn này có chung một đặc điểm là đề cao vị lãnh tụ theo hướng tôn nghiêm, coi Người như vầng thái dương, rất vĩ đại, cao siêu. Cả lời ca lẫn giai điệu đều có hơi hướng Thánh ca - nghĩa là ca ngợi như một vị thánh. Điều này sẽ không còn thấy ở những bài hát ra đời sau đó - từ năm 1954 trở đi. 

Tiêu biểu nhất cho khuynh hướng trên là bài “Ca ngợi Hồ Chủ tịch” của Lưu Hữu Phước. Bài hát rất ngắn gọn, hàm súc, ở thể một đoạn đơn với tiết tấu dàn trải ở nhịp 4/4, âm vực hẹp tiện cho tất cả mọi người có thể hát, đã nhanh chóng có sức lan toả rộng rãi ngay từ khi ra đời. 

Lời ca khái quát cô đọng: “Sao vàng phấp phới ánh hồng sáng tươi. Toàn Việt Nam đón chào ngày mới, Hồ Chí Minh dắt toàn dân nước ta, vững bền tranh đấu cho đời chúng ta…”. 

Một bài hát ngắn nhưng có giai điệu trang nghiêm, khi hát đồng ca gây cho người nghe cảm giác âm thanh dày, sâu, rất phù hợp với việc ca ngợi một vị lãnh tụ như Hồ Chủ tịch. Có lẽ vì vậy mà bài này đã được coi là Lãnh tụ ca, giống như bài Tiến quân ca của Văn Cao là Quốc ca, bài Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam của Đỗ Minh là Đảng ca.

Kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, sau năm 1954, bài hát về Bác Hồ đã bớt dần tính chất Thánh ca như đã nói. (Đây là một đặc điểm tâm lý mang tính tất yếu. Bởi ở thời kỳ đầu, lãnh tụ Hồ Chí Minh xuất hiện như một đấng cứu tinh trong suy nghĩ của người dân Việt Nam. Bác chưa có dịp gần gũi mọi tầng lớp nhân dân như về sau này - sau năm 1954). Hai trong số những bài hát hay nhất đã được ra đời trong thời kỳ này: “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” của Nguyễn Tài Tuệ và “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” của Trần Kiết Tường. 

Nếu bài hát của Nguyễn Tài Tuệ khai thác chất dân ca Tày, Nùng ở Cao Bằng, diễn tả tình cảm của người dân Việt Bắc với Bác thì bài của Trần Kiết Tường lại sử dụng điệu hò Đồng Tháp làm chất liệu chính, biểu hiện lòng biết ơn và tình nghĩa sâu nặng của đồng bào miền Nam dâng lên Người. Đây là hai bài hát tuy sử dụng chất liệu dân ca ở hai địa phương cụ thể nhưng có sức khái quát nhất về việc khắc họa hình tượng Bác Hồ trong âm nhạc. Bởi vậy không khó hiểu khi nó đã có sức sống mãnh liệt suốt 60 năm qua. 

Chuyện rằng nhạc sỹ Trần Kiết Tường sau khi sáng tác xong bài hát “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người” vẫn chưa yên tâm trao tác phẩm cho ca sỹ nào. Ông có ý chờ ca sỹ Quốc Hương lúc này đang còn học ở Hunggary. Khi về nước, ca sỹ đã hào hứng tập và đến Đài Tiếng nói Việt Nam thu thanh. Ngay sau lần phát sóng đầu tiên, rất nhiều thư ở khắp nơi gửi về yêu cầu phát lại. Và thành công đặc biệt của ca khúc này đã vượt quá sự tưởng tượng của cả nhạc sỹ lẫn ca sỹ.

Cố nhạc sỹ Lưu Bách Thụ - người đầu tiên viết bài hát về Bác Hồ.
Cố nhạc sỹ Lưu Bách Thụ - người đầu tiên viết bài hát về Bác Hồ.

Sự ra đời của bài “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó” cũng khá độc đáo. Nhạc sỹ Nguyễn Tài Tuệ cho biết: Sau khi học thanh nhạc ở nước ngoài về nước, ca sỹ Quốc Hương gợi ý ông viết một bài hát về Bác Hồ. Lúc ấy cũng đã có một số bài hát hay về Bác của các nhạc sĩ đàn anh như Lưu Hữu Phước, Đỗ Nhuận, Văn Cao, Tô Vũ, Lưu Bách Thụ. Ông từng có những thời gian sống ở miền núi phía Bắc nên đã ngấm các chất liệu dân ca vùng này, đặc biệt là dân ca Tày, Nùng. 

Trân trọng trước lời gợi ý của Quốc Hương, ông bắt đầu thai nghén tác phẩm. Ông nói ý định sẽ viết về Bác liên quan đến sự kiện Người trở về Tổ quốc và làm việc trong hang Pác Bó ở Cao Bằng. Nội dung này chưa ai đề cập, lại có dịp sử dụng chất liệu dân ca Tày, Nùng, hy vọng bài hát sẽ có cơ may thành công. 

Quốc Hương ủng hộ ngay và còn rất nhiệt tình bàn là phải lên Cao Bằng, đến hang Pác Bó để tận mắt chứng kiến khung cảnh nơi đây cùng những vật dụng liên quan đến những ngày tháng Bác làm việc tại hang này còn lưu giữ được. Thế là hai người quyết định mua một chiếc xe đạp để thay phiên đèo nhau từ Hà Nội lên Cao Bằng, tối đâu sẽ ngủ đó, đang sức trẻ chẳng lo gì mệt nhọc. 

Ngày ấy lên Cao Bằng rất khó khăn, không dễ có thể đi ôtô. Nhưng thật không may, ngay sau khi có được xe đạp, họ bị ngã xe đạp tại Hà Nội, người chỉ bị đau nhưng xe thì hỏng nặng nên chuyến đi phải gác lại. Sau đó họ đều vướng những công việc khác. Thế là cuộc lên Pác Bó lần ấy không thành. 

Nhưng với lòng quyết tâm sáng tác, Nguyễn Tài Tuệ đã tìm rất nhiều tài liệu về Cao Bằng, Pác Bó và sự kiện Bác Hồ trở về hang này nên mặc dù không đến được tận nơi, ông vẫn viết nên bài hát bất hủ. Có thể nói ít có người Việt Nam nào lại không biết và ưa thích bài này.

Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần đã để lại tổn thất nặng nề không gì có thể bù đắp đối với toàn dân tộc. Cú sốc lớn này của người Việt ta đã khiến các nhạc sĩ cho ra đời hàng loạt bài hát xúc động. Có thể nói họ đã khóc Bác bằng âm nhạc. 

Tiêu biểu nhất cho loạt bài này là “Người là niềm tin tất thắng” của Chu Minh với lời lẽ và âm điệu mang đậm chất bi thương, tưởng niệm: “Đất nước nghiêng mình, đời đời tiếc thương tên Người sống mãi với non sông Việt Nam…”. Cùng lúc này có rất nhiều bài khác đều chung chủ đề tưởng niệm Bác nhưng chỉ có bài của Chu Minh là sống mãi đến ngày hôm nay. 

Viết về Bác, càng về sau, các nhạc sĩ càng có khuynh hướng bớt đi phần ca ngợi mang màu sắc Thánh ca mà thiên về việc bộc lộ tình cảm quyết tâm của các thế hệ thực hiện di chúc, lời dạy và noi theo đức độ, phẩm cách lớn lao của Người. Tính hành động đã thấm đượm trong ý nghĩa ca từ của những bài hát này. 

Các nhạc sĩ đã hóa thân vào các tầng lớp: Bộ đội, nông dân, mọi miền đất nước mà hát về Bác. Có cảm giác khi nghe những bài hát này như là Bác vẫn còn ở bên ta, vẫn dắt tay ta cùng hoàn thành những nhiệm vụ nặng nề của lịch sử như những năm nào, vẫn cùng các cháu thiếu nhi vui trung thu hằng năm, vẫn chúc Tết giao thừa, vẫn bắt nhịp bài ca “Kết đoàn”. Đó chính là tài năng và cũng là công sức rất đáng ghi nhận của giới nhạc sĩ đã làm cho hình tượng Bác Hồ luôn sống động, vĩnh hằng. 

Trong thành tựu chung, không thể không ghi nhận công sức và hiệu quả đặc biệt của một số nhạc sĩ đã có nhiều bài hát hay về Bác được đông đảo công chúng ưa chuộng: Thuận Yến, Phạm Tuyên, Văn An, Lưu Hữu Phước. Đây là những nhạc sĩ rất nổi tiếng, có những nhạc phẩm có sức sống lâu bền.

Một số bạn nước ngoài từng học và làm việc ở Việt Nam yêu thích âm nhạc đã hỏi tôi: “Do đâu mà lãnh tụ Hồ Chí Minh lại có quá nhiều bài hát hay nói về Người như thế? Ở nước họ và mọi nơi trên thế giới, lãnh tụ cũng rất vĩ đại, có công với đất nước mà không có nhiều bài hát ca ngợi như Bác Hồ ở Việt Nam”. 

Tôi trả lời họ: “Là bởi mấy nguyên do: Thứ nhất: Dân tộc chúng tôi là một dân tộc rất yêu thích âm nhạc, ca hát. Bằng chứng là có hàng ngàn làn điệu dân ca hay lưu truyền từ bao đời. Thứ hai: Lãnh tụ của chúng tôi vĩ đại nhưng rất bình dị, gần gũi với tất thảy mọi người, nhất là những người lao động, nghèo. Khi Người qua đời, từ em nhỏ đến các cụ già đều khóc nức nở như khóc người thân của mình mất đi. Thứ ba: Sinh thời, Bác Hồ rất yêu âm nhạc và giới nhạc sỹ. Người đã có lần đích thân cầm đũa chỉ huy dàn hợp xướng hát bài ca “Kết đoàn””.

Tuy đã có rất nhiều bài hát hay về Bác nhưng đề tài này vẫn luôn là sự thôi thúc tự nhiên đối với bất kỳ nhạc sỹ nào mỗi khi tưởng nhớ đến Người.

Nguyễn Đình San

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.