Ba nhà thơ tuổi Ngọ ba con đường tự do của linh hồn thơ Việt

Có một sự thật như định mệnh, như triết lý sống của cả một dân tộc: Khi một con tuấn mã phi nước đại đến bờ biển, trước mặt nó chỉ còn 3 lối: quay đầu, dừng bước, hoặc lao mình về phía trước. Quay đầu là lùi bước. Dừng lại là chết mòn. Lao đi là hóa thân vào đại dương, hòa vào cõi mênh mông để... bước tiếp.

Việt Nam - dân tộc ấy, từ ngàn xưa, đã chọn cách thứ ba. Không đứng bên bờ vực thẳm để ngửa tay xin lòng thương hại. Không cam tâm cúi đầu trước số phận. Và, trong vòng quay bất tận của 12 con giáp, tuổi Ngọ chính là biểu tượng rực lửa cho khát vọng “lên đường” ấy.

Ăn gió nằm sương.
Không chịu yên vị.
Không chấp nhận bị cột vào một chân cọc.

Nguyễn Đình Chiểu (Canh Ngọ - 1822): Người đi bằng đạo nghĩa sáng ngời

Ba nhà thơ tuổi Ngọ ba con đường tự do của linh hồn thơ Việt -0
Tượng nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu.

Thử hỏi: trong lịch sử văn chương nước Nam, có ai “đi” mà... không cần đôi mắt?

Đó là Nguyễn Đình Chiểu - ngọn đuốc lớn từ miền đất Gia Định. Xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, tài hoa lỗi lạc, một cơn bạo bệnh cướp đi đôi mắt, nhưng không thể dập tắt thứ “nội quang” rực cháy trong tâm hồn ông. Khi tiếng súng xâm lăng nổ ra tại Nam Kỳ, Cụ Đồ Chiểu không cưỡi ngựa, múa gươm. Ông cưỡi lên những trang văn, viết lên đạo nghĩa làm người.

“Lục Vân Tiên” của ông là bản hùng ca về mẫu người quân tử Việt, sẵn sàng xả thân cứu người hoạn nạn. “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” là khúc ca bi tráng, biến tiếng khóc thương thành khí phách hiên ngang của một dân tộc “không thèm trốn chạy, quỳ gối”.

Văn chương của ông - không tô son điểm phấn, không rải hoa lên những nấm mồ vô tri. Nó là lưỡi gươm, là mũi chông, soi rọi vào cốt cách, đánh thức lương tri: đứng về phía nhân dân và sống xứng đáng với nhân dân. Không có đôi mắt để nhìn đời, nhưng tầm nhìn của ông xuyên thấu cả một thời đại loạn ly. Nguyễn Đình Chiểu - chính là minh chứng hùng hồn đầu tiên: người Việt Nam đi đến tự do, trước hết phải đi bằng... đạo nghĩa.

Một thế kỷ sau, ngọn gió Ngọ lại thổi. Nhưng, lần này, nó mang theo hơi thở của đồng quê, của cánh cò trên sông, của một trái tim lãng du mang tên Nguyễn Bính - người thơ đi giữa cuộc đời mà vẫn giữ được giọng quê nguyên vẹn trong từng câu chữ.

Nguyễn Bính (Mậu Ngọ - 1918): Người đi bằng tình quê và lãng du

Ba nhà thơ tuổi Ngọ ba con đường tự do của linh hồn thơ Việt -1
                 Nhà thơ Nguyễn Bính.     

Một thế kỷ sau cụ đồ Chiểu, lại một tuổi Ngọ khác ra đời. Nhưng, lần này, con ngựa ấy không đi ra trận, không gánh chữ Đạo trên vai, mà đi trên những con đường làng - nơi có mùi rơm mới, khói lam chiều, có ngôi nhà đỏ lửa bếp reo, tiếng mõ trâu gõ nhịp chiều về, và một trái tim đa mang nỗi nhân tình thế thái, đa mang một nỗi yêu thương sâu sắc với con người và cuộc đời.

Nguyễn Bính là người thơ của quê hương, của đồng ruộng Việt Nam. Thơ ông mộc đến độ tưởng như chỉ cần ngắt một nhành hoa dại là có thể viết. Không học đòi Tây học, không trang sức ngôn từ - Nguyễn Bính đem vào thơ giọng nói thật của làng quê, một thứ ngôn ngữ có vị mồ hôi, vị sông nước và vị thương nhớ ngậm ngùi.

Cái “đi” của Nguyễn Bính không ồn ào. Đó là bước đi của người lãng du trong chính nỗi buồn của mình. Một thi sĩ cô đơn giữa thế giới đổi thay, cố giữ lại cho dân tộc hồn Việt - tiếng Việt - nếp nghĩ Việt, tâm hồn Việt. Ông đi từ đồng quê Nam Định đến Hà Nội, từ những chuyến xe thơ Tự lực Văn đoàn đến kháng chiến. Rồi lại vào tận miền Nam, in “Hương cố nhân”, “Mười hai bến nước”, làm báo ở Mỹ Tho, Gò Công, Cần Thơ, để lại dấu chân và cả một mối tình sâu kín. Những năm tháng ấy, thơ Nguyễn Bính thấm thêm mùi sông nước phương Nam - “Nam tiến ngày vương hương cố nhân/ Đêm nằm nghe tiếng trống đêm xuân” - (thơ Nguyên Hùng).

Ở đâu, ông cũng mang theo một chiếc bóng của quê hương. Thơ ông vì thế không chỉ là nỗi nhớ một người, mà là nỗi nhớ một nền văn hóa đang dần phôi pha trong sự đổi thay như vũ bão của thời cuộc “Nào đâu cái yếm lụa sồi/ Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân/ Nào đâu cái áo tứ thân/ Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen/ Nói ra sợ mất lòng em/ Van em em hãy giữ nguyên quê mùa.../ Hôm qua em đi tỉnh về, hương đồng gió nội bay đi ít nhiều”.

Nguyễn Bính đi bằng tình, nhưng đó không phải thứ tình yếu mềm. Đó là tình thương lớn - tình quê, tình người, tình đất nước. Thơ ông khiến người ta hiểu rằng: giữa bao biến động, giữ được một tấm lòng thủy chung cũng là một cách đi về phía tự do.

Xuân Quỳnh (Nhâm Ngọ - 1942): Người đi bằng trái tim phụ nữ Việt, dạt dào và mãnh liệt

Ba nhà thơ tuổi Ngọ ba con đường tự do của linh hồn thơ Việt -0
Nhà thơ Xuân Quỳnh.

Và rồi, thêm một tuổi Ngọ nữa - lần này là một người đàn bà viết thơ tình bằng trái tim đập mãnh liệt vì yêu, không giấu giếm những bão dông của chính mình. Nếu Nguyễn Đình Chiểu là “đi bằng đạo” như ngọn núi, Nguyễn Bính là “đi bằng tình” như cánh đồng, thì Xuân Quỳnh là “đi bằng yêu” - như chiếc thuyền mong manh mà can trường trên biển lớn, như con sóng “dữ dội và dịu êm”. Trong thơ chị - không có sự phòng thủ, không có cao giọng triết gia, không có những lớp áo bảo vệ bản ngã. Có gì - viết thế. Lòng sao - nói thẳng. Nhớ ai - đem cả trời nhớ, cả nỗi “lo âu thầm kín” đặt xuống trang giấy.

Thơ Xuân Quỳnh chính là cuộc “giải phóng xúc cảm” của phụ nữ Việt Nam trong thi ca - một cuộc cách mạng thầm lặng mà vĩ đại. Từ chị, thơ tình Việt Nam không còn là đóa hoa trang trí, mà trở thành một thân phận bằng xương bằng thịt, được quyền run rẩy, được quyền hoang mang, được quyền bão tố và được quyền khao khát hạnh phúc.

Và theo cách ấy - Xuân Quỳnh mở ra một kiểu “tự do” rất nhân bản: tự do được là chính mình, tự do được yêu và được bày tỏ sự tổn thương không cần che đậy. “Chẳng dại gì em ước nó bằng vàng/ Trái tim em anh cũng từng biết đấy/ Anh là người coi thường của cải/ Nên nếu cần anh bán nó đi ngay... Em lo âu trước xa tắp đường mình/ Trái tim đập những điều không thể nói/ Trái tim đập cồn cào cơn đói/ Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn/ Em trở về đúng nghĩa trái tim em/ Là máu thịt đời thường ai chẳng có/ Cũng ngừng đập khi cuộc đời không còn nữa/ Nhưng biết yêu anh cả khi chết đi rồi”.

Vĩ thanh: Một mùa xuân của những bước đi
Ba Tuổi Ngọ. Ba cách đi. Ba dáng hình tự do.
Nguyễn Đình Chiểu: Tự do bằng đạo nghĩa sáng ngời.
Nguyễn Bính: Tự do bằng tình quê thủy chung.

Xuân Quỳnh: Tự do bằng trái tim thuần khiết.

Và, cả ba - tựa 3 nhánh sông, đều chảy về một biển lớn: tự do của linh hồn Việt Nam.

Người Việt chưa bao giờ là một dân tộc “ngồi đợi được cho tự do”. Người Việt, bằng mọi giá, phải tự mình lên đường để giành lấy. Trong vòng quay của 12 con giáp, tuổi Ngọ mãi là biểu tượng đẹp đẽ: biểu tượng của bước chân dám vượt ra khỏi vùng an toàn, bước ra từ bóng tối - dẫu đó là đường đất, đường gió, đường tri thức hay đường trái tim.

Xuân Bính Ngọ 2026. Khi ta nhìn lại những cuộc hành trình ấy, ta chợt thấm thía một chân lý giản dị: Một dân tộc chỉ thực sự lớn lên khi những con người của dân tộc ấy không ngừng dấn bước - dám đi và đi tới cùng - vì sự tự do của chính linh hồn mình.

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (1822-1888)

Ông rọi xuyên qua thế kỷ gieo neo
Tâm làm đuốc khiến kinh hồn Pháp quốc
Lục Vân Tiên cứu tiếng khóc dân nghèo
Cả Nam bộ hướng về Cần Giuộc
Bài văn tế những nghĩa quân yêu nước
Thơ ông thành đạo nghĩa của nhân dân.

                                  11/11/2025

NGUYỄN BÍNH (1918-1966)

Mười chín thầm mơ cô hái mơ
Tương tư đã biết bấm khuy chờ
Chân quê đồng nội còn lưu dấu
Chanh nở vườn chanh tím ngẩn ngơ.

Nam tiến ngày vương hương cố nhân
Đêm nằm nghe tiếng trống đêm xuân
Mười hai bến nước ai còn nhớ
Một thuở trăm hoa nở mấy lần?

Trong bóng cờ bay nhớ đất Nam
Chạnh thương chị Trúc lỡ sang ngang
Một nghìn cửa sổ, đêm sao sáng
Thi sĩ tìm gì giữa đêm hoang?

Tết đến sao người nỡ vội đi
Để lại niềm thương, gió dặn gì
Ông lão mài gươm phun bã khói
“Một mình làm cả cuộc phân ly”...

                                     30/6/2020

XUÂN QUỲNH (1942-1988)

Chữ Xuân Quỳnh tự hát
Như hương quỳnh tự thơm
Lời ru trên mặt đất
Ru chồi biếc xanh hơn.

Gió Lào và cát trắng
Không làm héo xuân thì
Để lòng người hoang vắng
Sân ga chiều em đi.

Bầu trời trong quả trứng
Che tuổi thơ một thời
Thuyền và biển và sóng
Mãi dạt dào không ngơi...

            Mồng 1 Tết Đinh Dậu, 2017

Nguyên Hùng

Các tin khác

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Nhà văn, liệt sĩ Nam Cao Bên dòng Châu Giang lộng gió

Chúng tôi về thăm khu tưởng niệm nhà văn, liệt sĩ Nam Cao (1917-1951) đúng vào vụ chuối ngự chín rộ thơm phức. Nằm bên sông Châu, những cây đại quanh vườn ra hoa quanh năm trắng muốt. Khu tưởng niệm nhà văn Nam Cao (thành lập năm 2004) là một trong số ít địa chỉ văn chương được công nhận là Di tích cấp Quốc gia (2023). Đây là một quần thể di tích, gồm bảo tàng di sản văn học của Nam Cao, ngôi nhà Bá Kiến và dấu chứng lò gạch trong làng.