Ao làng ngày xưa trong lắm

Hồi bố tôi còn trên chiến khu, hai mẹ con tôi tá túc ở nhà ông ngoại. Trước nhà ông ngoại tôi là một vườn rộng mênh mông. Một phần vì nhà neo người. Ông ngoại tôi mất lối độ năm, sáu năm về trước, đâu khoảng năm ngọ, năm mùi gì đấy. Bác cả tôi sinh con một bề, hai chị cùng xêm xêm tuổi tôi, lít nhít lên năm lên sáu.

Nhà hơn mẫu ruộng, cả hai bác đều không phải hạng lực điền gì nên kham từng nấy ruộng đã bở hơi tai. Em gái là mẹ tôi thì một mình bươn chải quanh năm toòng teng đôi quang gánh. Một bên thúng là tôi, bên kia là rượu, thuốc lào bán vặt cho dân trong làng và mấy làng bên.

Chiều nào về cũng thấy mẹ tôi bóp chân. Em trai là hai cậu kế liền mẹ tôi thì lăm lăm bay nhảy, nên tiếng là vườn nhà nhưng chẳng mấy khi dính hơi tay người chăm bón. Thành thử cây mọc um tùm, chuối là chủ yếu cùng xoan, nhãn. Khu vườn như bị quên lãng, thi thoảng dăm bữa, nửa tháng nghe tiếng chào mào loét choét mới hay trong vườn có buồng chuối chín cây. Kề liền trước mặt vườn là một cái ao không hiểu sao lại gọi là ao Binh.

Mấy vị cao niên ở làng tôi bảo cái ao đó do làng đào ra để dùng vào việc công của làng. Có người lại bảo ao đó do quân Cờ đen đào ra để dành cho quân lính tắm táp như cầu Binh địa liền với ao Sen là nơi quân Cờ đen tập trận. Nếu tách ao Binh ra một mình thì ao Binh cũng là ao to nhất nhì làng. Góc ao phía vườn nhà tôi là cây vối lưu niên. Mẹ tôi bán chè mạn nên bác cả tôi buổi sáng sau bữa sớm để kịp ra đồng thường uống trà “vì cái giống trà làm cho người tỉnh táo, hút điếu thuốc cũng đượm giọng hơn”.

Thành thử, lá vối chỉ dành cho bác gái tôi thỉnh thoảng ra hái mang về ủ cho khô và cho dân làng. Quả vối ngọt lừ rút lại cũng chỉ dành đám chào mào, và rụng xuống ao. Ba chị em tôi thích quả vối lắm nhưng cũng đành chịu vì vườn thì rậm rạp, ao Binh thì nghe hai bác và mẹ tôi bảo dưới ao nhiều con nam lắm. Đứa nào cứ ra nghịch bên bờ ao, hay cầu ao thì nam rút chân. Phía giáp đồng đối diện với vườn nhà tôi là một lũy tre um tùm, dưới gốc tre có một cái hủm không rõ do chuột đào bới, hay nước ao ăn vào thành một cái hủm sâu hoắm. Mẹ tôi, bác gái thì bảo đó là hang của con nam.

Cậu tôi tủm tỉm cười, nói nhỏ với tôi rằng đấy là hang của một cặp vợ chồng chim cuốc. Tôi tin cậu tôi hơn vì vào những chiều hè khi ngày chỉ còn sót lại vài tia nắng yếu ớt hiện rõ trên những rải quạt mỏng mảnh phía đầu trời thì vọng từ bên kia ao, tiếng cặp vợ chồng cuốc lại gióng giả vang lên không rõ để gọi hè, gọi con hay là báo hiệu đêm tối sắp đến. Thỉnh thoảng đi theo cậu ra phía bờ ao tôi cũng nhìn thấy mấy con cuốc con đen sì lon ton chạy theo cuốc mẹ rồi lủi mất hút. Đúng là cuốc lủi.

Thấy tôi trố mắt có vẻ thích thú nhìn theo con cuốc, cậu tôi bảo: “Để hôm nào cậu bắt cho con”. Thế là vào một buổi chạng vạng chiều, cậu tôi lần sang bờ đối diện, rồi chui vào bụi tre. Nấp kín xong, cậu tôi bắt chước tiếng cuốc gọi con. Tiếng “luốc, cuốc cuốc” của cậu tôi dìu dặt vang lên trên mặt ao sao mà tha thiết, quyến rũ làm vậy. Buổi tối khi mang đôi cuốc con về thả vào lồng cho tôi chơi, cậu tôi bảo: “Nghe tiếng cậu, đám cuốc con lầm tiếng mẹ gọi từ đâu đến cứ nhảy lên vai cậu chờ mẹ. Mà này, lúc nào con chơi chán, để cậu mang trả vào tổ cho mẹ nó khỏi tội”…

Kề liền với ao Binh là ao Sen. Hai ao nối với nhau bằng một cái đập nhỏ đã lở đi nhiều nên hai ao gần như dính vào nhau. Ao Sen là cái ao to nhất làng tôi ké liền với dốc Thụy chạy giữa luỹ tre rậm rì và cây sung cổ thụ để làm nên một góc làng hoang liêu, cổ tích khiến đám trẻ chúng tôi ngay cả giữa trưa hè cũng không dám một mình đi qua. Những người có tiếng bôn ba ở làng còn bảo ao Sen có lẽ cũng thuộc loại to nhất tổng, có khi nhất phủ Hoài Đức chứ không bỡn.

Khi tôi về ở nhà ông ngoại tôi thì ao Sen đã không còn cây, hay bông sen nào mà ven ao chỉ có những súng bèo của mấy nhà quanh ao nuôi lợn. Vậy mà không hiểu sao ao này lại mang tên loài hoa đẹp và thanh khiết nhất các loài hoa xứ này. Tôi không rõ ao Sen có to nhất tổng, nhất phủ hay không nhưng trong mắt tôi hồi bé ao Sen mênh mông và bát ngát lắm. Đứng từ đầu ao nhìn vào những hôm trời chớm thu, sương mờ giăng giăng mặt ao thì khó mà nhìn rõ người, trâu bò đi cuối ao. Còn vào hôm đẹp trời, nơi cuối ao giáp với mạn cầu Binh thấy người chỉ nhỏ bằng đầu đũa lao xao. Còn bề rộng của ao Sen thì…

Hồi đó cậu tôi đang vào độ tuổi đôi mươi, bắp tay, bắp chân cuồn cuộn, ngực nở từng tảng. Cậu từng giật giải nhất trong giải vật Hội Chèm có mời cả các đô vật ở làng Quỳnh Đôi lên đã từng cõng tôi trên vai bơi qua ao Sen. Cậu tôi đang sung sức là thế mà mẹ tôi làm xong hai con gà trong ngày giỗ ông ngoại mới bơi sang được bờ bên kia. Ao Binh ngoài mấy chiếc cầu ao bằng tre ghép hay ván thôi thì làng còn xây một cầu ao bằng gạch cho dân giặt giũ và làm gà, làm vịt. Còn ao Sen thì hồi bé có lần tôi đếm, quanh ao có đến năm cái cầu ao bằng gạch do làng xây. Lũ trẻ chúng tôi vào vụ hè có dễ ngày nào ít cũng phải hai lần xuống ao ì ùm.

Buổi trưa đi bắt cua về tráng giỏ cua sạch bùn, tắm táp. Buổi chiều đá bóng bưởi chán chê trên bãi cỏ cạnh nhà cụ Đội Kèn. Hồi bé và ngay đến bây giờ xin hương hồn cụ thứ phép, tôi cũng như lũ bạn cùng trang lứa không biết tên chính của cụ là gì, chỉ biết cụ đã từng lên chức Đội trong đội thổi kèn của quân Pháp. 

Cụ từng sang tận Ba Lê để chỉ huy đội kèn rặt Pháp trong Đại lễ cát tó duy ê (ngày Quốc khánh Pháp 14/7). Mỗi bận hứng lên cụ lại mang chiếc kèn đồng có buộc giải lụa đỏ bạc màu thổi róng lên mấy khúc la vầy (nhạc duyệt binh Pháp) mở đầu cho trận bóng bưởi của chúng tôi. Đá chán chê, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, chúng tôi lao ngay xuống ao Sen. Mặt ao thì nóng như nước đun sôi để nguội vậy mà càng lặn sâu nước càng mát rượi…

Bây giờ nhớ lại mới thấy lạ một điều. Ao làng tôi quanh bờ cái nào cũng sum suê bóng của những luỹ tre, rặng ổi, cây nhãn, cây vối lưu niên khiến ao nào cũng mang vẻ âm u, trừ tịch làm lũ trẻ chúng tôi tin về những con nam dưới ao rút chân là thế. Còn quanh ao Sen chỉ có bờ cỏ, những gò đồi bao quanh khiến ao càng mênh mông, khoáng đãng. Sự khoáng đãng, minh bạch đó làm sao có chỗ cho những con nam thâm hiểm trú ngụ mà kéo chân trẻ con…

Làng tôi thủa trước nhiều ao lắm. Ngoài ao Sen, ao Binh, rồi ao Đình, ao Chùa được xem là ao làng còn trong làng cứ vài nhà lại quần tụ quanh một chiếc ao. Các cụ bảo ngày xưa mỗi bận làm nhà người ta vật thổ lấy đất làm nền, nung gạch, nung ngói. Hố đấu mưa xuống cho nước, trồng quanh bờ đấu búi tre, cây nhãn, cây ổi, cây roi, cây vối. Thế là thành cái ao. Thả bèo lấy cái nuôi lợn. Ăn cơm xong ra cầu ao rửa bát. Chiều chiều con trai nhảy xuống ao hò hét bơi lặn. Con gái đánh bóng quần cho phồng lên nổi lềnh bềnh trên mặt nước trêu nhau chí choé. Mưa xuống những con rãnh, lạch nhỏ trong làng chảy thông ao nọ sang ao kia, đám cá rô, cá diếc, cá trê động nước rạch lên cho đám con trai bắt cá rạch.

Giáp tết sau đợt tát ao bắt cá, lại thả nước về ao để người mổ lợn, mổ gà, rửa lá dong, lá chuối, đãi gạo, đãi đỗ chuẩn bị một cái tết sum vầy sau một năm vất vả… Và tôi yêu người con gái thon thả, má lúm đồng tiền một thời nay đã là bà nội phục phịch của đám cháu nội ngầy ngà cũng bởi quả roi rơi xuống mặt ao lấm tấm bèo dâu nhà ông ngoại tức nhà cụ Phán Vân, con cụ Tú dạy học nổi tiếng khắp vùng Chèm, Vẽ… Và cả Phủ Hoài. Lũy tre bờ ao nhà cậu nó cũng một đôi cuốc từ đồng vào làm tổ. Đã là gã thanh niên biết làm dáng trước mặt gái làng mà tiếng cuốc ấy vẫn gợi đến nôn nao cho một thời bồng bềnh trên vai cậu qua ao…

Vậy mà về làng bây giờ, lòng cứ thấy buồn buồn. Một nỗi buồn mang mang, không định rõ. Cật vấn mãi trong độ sâu của tâm khảm mình cứ nghĩ hay đó là sự trầm mặc của kẻ đã sống lâu trên mặt đất, dưới gầm trời chao chát này, ít nhiều nhận ra sự đời đa đoan. Cái chênh chao muôn mặt của lẽ sống. Nghĩ mãi, nghĩ mãi mới hay nỗi buồn mang mang ấy là sự đổi thay của một căn làng tôi đã từng sống những năm tháng bì bũm với những ao Sen, ao Binh, ao nhà cô láng giềng, ao nhà người vợ bèo tấm, tao khang.

Chao ôi làng tôi một thời nhiều ao thế. Nước ao làng tắm mát cả một tuổi thơ đâu chỉ riêng tôi với những mộng mơ, những bần thần những buổi chiều vàng quạch ráng chiều. Tiếng quả vối chín rụng trầm xốp trên mặt ao bèo. Nàng ngồi xây lưng về phía ta bên cầu ao chênh vênh rửa bát, đãi đỗ. Má lúm đồng tiền đỏ màu roi chớm chín... Con rô rạch theo lạch nước, những con nam lấp ló trong nỗi sợ ban chiều…

Tất cả đã biến hết bởi những mặt ao giờ hoang hoang nhưng ngấn vòng loang loang cá đớp đã không còn và vĩnh viễn chôn dưới những nhà ống lênh khênh lợp mái tôn, những tường nhà đổ bê tông trơ lỳ như mặt người trơ tráo vỡ hụi quỵt nợ. Ao Binh, cái ao róng rả tiếng mẹ con cuốc ra rả gọi hè, tiếng giả cuốc của cậu tôi giờ là toà nhà to vật, thô thiển chói loà bình nước tôn trên nóc nhà.

Ngay cả ao Sen mênh mông đến gần bốn mẫu giờ teo tóp khuôn lại bởi những nhà ống lấn chiếm xây lên. Tệ hại hơn, chềnh ềnh ngay giữa ao kề ngay bên mỏm gò đất có bụi tầm gửi vàng rực hồi cậu cõng tôi bơi qua hai cậu cháu nằm phơi mình giờ là một toà nhà lấn chiếm chẹn ngang. Cậu tôi đã ngoại tám mươi thều thào bảo: “Ngày xưa chỉ cần phạm một chút đất công, ao làng thì không biết có sống nổi ở làng không. Thời nay dân chủ kẻ trơ tráo, kẻ có tiền là được lợi”.

Cũng còn may, làng tôi có ông chủ tịch còn kém con trai thứ nhà tôi một tuổi có bằng cử nhân văn hoá từng đọc tiểu thuyết Vết xoáy trước ngực làng của tôi kể về làng Chèm cách đây non thế kỉ chắc tiếc cái ao to nhất làng, nhất tổng nên xin huyện cho làng dự án khoanh ao. Chao ôi, ao Sen mênh mông, hoang dã một thời giờ bị lấn chiếm nay chỉ còn tí tẹo lại thêm tường hoa bao quanh nom như một bể cá cảnh của một gã trọc phú bỏ quên bên góc làng đang bê tông hoá.

Cái ao đẹp như trong tranh Nguyễn Phan Chánh đằng bố vợ tôi cũng lấp lại để chia đất cho mấy cậu em vợ. Chiếc ao ngay trước lũy tre đã từng lềnh bềnh những trang bản thảo của tôi khi tôi lao xe đạp xuống buổi dọn nhà nay đã lấp bằng để thành những dãy nhà xây của khu chợ kiên cố nhưng luôn là cảnh chợ chiều đìu hiu, quạnh quẽ. Có ma nào vào chốn ấy mà bán mà mua.

Trời! Thế là ao làng tôi đã mất rồi. Chớm mưa, người làng Chèm bì bõm lội trên đường làng ram ráp ximăng vì không còn nơi cho nước chảy xuống. Những đứa trẻ làng tôi sẽ chẳng bao giờ được thỏa thích bơi lội trong nước ao mát lạnh những buổi chiều hè, không còn được bắt cá rạch từ ao lên ngày mưa. Người con gái không còn được làm duyên khi rửa chân rửa bát, đãi đỗ bên cầu ao cho chàng trai ngắm nhìn. Ao mất hết rồi, vậy là những con nam huyền bí mãi mãi không còn trong lời dọa ngọt ngào của người mẹ giữa tiếng võng đưa kẽo kẹt buổi trưa hè nữa rồi. Tiếc thay…

Nguyễn Hiếu

Các tin khác

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Nở rộ review thuê: Thị trường dẫn dắt bởi những lời dối trá

Từ những dòng đánh giá tưởng như vô hại, một thị trường ngầm của "review thuê" đang âm thầm hoạt động, khi mà những lời tâng bốc được sản xuất hàng loạt và người tiêu dùng không biết tin vào đâu. Khi mỗi quyết định mua sắm đều bị những lời quảng cáo dẫn dắt bằng dữ liệu dối trá.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Có nhiều lúc trong lòng thấy vui

Thỉnh thoảng, nhìn thấy ở ngã tư đường, có những em học sinh mặc đồng phục đứng hàng ngang, tay cầm tấm bảng ghi dòng chữ như: “Đi trên đường, nhường nhịn nhau”; “Dừng đèn đỏ, tỏ văn minh”, “Chậm một giây, hơn gây tai nạn”, "An toàn là bạn, tai nạn là thù", "Đi đúng tuyến, dừng đúng vạch"... lòng thấy vui. Lại thấy vui khi ta biết vẫn còn đó những con người lặng lẽ đi qua cuộc đời này bằng cái nhìn nhẹ nhàng, an lạc.

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Bình yên vùng biên Lao Bảo

Ở vùng biên Lao Bảo, tỉnh Quảng Trị, bình yên không bắt đầu từ những điều lớn lao hay xa vời. Nó được chắt chiu từ những bước chân lặng lẽ gõ cửa từng mái nhà, từ sự kiên nhẫn cầm tay người dân làm quen với chiếc điện thoại thông minh, và từ những công trình đang dần hiện hình giữa đời sống thường nhật. Từ những điều gần gũi ấy, một thế trận an ninh được bồi đắp từng ngày, bền bỉ và chắc chắn ngay từ cơ sở.

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Tận thấy ở công trường chống ngập giữa Thủ đô

Từ vài tháng qua, nhiều tuyến phố ở nội đô Hà Nội đã trở thành công trường xây dựng, khi mặt đường đã được đơn vị thi công rào từng đoạn để thi công hạ ngầm những chiếc cống hộp bê tông đúc sẵn có kích thước tới vài mét thuộc dự án chống ngập úng cục bộ. Đây là công trình được người dân kỳ vọng sẽ thay đổi tình trạng hễ mưa là ngập trên nhiều tuyến phố ở Hà Nội suốt nhiều năm qua.

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến 2026: Bức tranh đa sắc màu của nhạc Việt

20 năm tồn tại, Giải thưởng Âm nhạc Cống hiến đã vượt qua khuôn khổ của một sự kiện vinh danh thường niên để trở thành một “thiết chế mềm” của đời sống âm nhạc Việt Nam. Mùa giải năm 2026 là một lát cắt phản ánh những biến chuyển của thị trường âm nhạc đương đại. Đó là một bức tranh sôi động, nhiều màu sắc, nơi âm nhạc Việt đang đứng giữa giao điểm của nghệ thuật, công nghiệp và toàn cầu hóa.

Lan man về nghề viết

Lan man về nghề viết

Thật lạ, có những câu thơ, dù chỉ đọc thoáng qua nhưng rồi lại nhớ mãi, có thế bởi tự dưng lại nhớ đến bài tứ tuyệt Vũ Hoàng Chương tặng Vũ Bằng: “Có bằng nói láo bốn mươi năm. Vũ ấy mà sao giọng vẫn văn. Hay tại đa ngôn đa báo hại. Giường tiên trời phạt chẳng cho nằm”.

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Hội họa Việt Nam vượt kỳ vọng tại sàn đấu giá quốc tế

Tại phiên đấu giá Nghệ thuật Hiện đại và Đương đại do Sotheby's tổ chức tại Hồng Kông vừa qua, các tác phẩm của danh họa Mai Trung Thứ và Lê Phổ đã được chốt với mức giá gần 1 triệu USD. Điều đáng nói, đây đang trở thành một xu hướng kéo dài trong nhiều năm qua. Đằng sau những con số ấn tượng ấy không chỉ là câu chuyện của thị trường, mà còn là dấu hiệu cho thấy hội họa Đông Dương đã và đang được định danh trên bản đồ toàn cầu.

Đường dài của những sáng tạo mới

Đường dài của những sáng tạo mới

Trong vài năm trở lại đây, đời sống nghệ thuật Việt Nam chứng kiến một làn sóng sáng tạo đến từ các nghệ sĩ trẻ và những đơn vị nghệ thuật độc lập. Họ không chỉ dàn dựng tác phẩm, mà còn tạo ra những“ngôn ngữ biểu đạt mới”- nơi chất liệu văn hóa Việt Nam được đặt trong sự đối thoại với tinh hoa nghệ thuật hàn lâm châu Âu.

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Xem thổ cẩm Việt giữa Paris

Đó là triển lãm "Thổ cẩm Việt Nam - những sợi chỉ kể chuyện" tại không gian triển lãm của thư viện Jean-Pierre Melville, thuộc một khu sầm uất của quận 13, Paris, một nơi vốn được xem là khu phố đặc trưng của châu Á, hội tụ và giao thoa của nhiều nền văn hóa của thành phố.

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Giọng nói bị đánh cắp, tội ác không có dấu vân tay

Chỉ cần vài giây âm thanh công khai trên internet, trí tuệ nhân tạo có thể tạo ra một bản sao giọng nói gần như hoàn hảo, đủ để lừa dối, đủ để trục lợi và đủ để phá hủy uy tín của một nghệ sĩ được xây dựng trong nhiều thập kỷ.

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Oscar 2026 và những định nghĩa trong thời đại số

Giải thưởng điện ảnh danh giá nhất thế giới - Oscar lần thứ 98 đã diễn ra vào ngày 15/3/2026 theo giờ miền Đông nước Mỹ tại nhà hát Dolby ở Los Angeles. Danh hài Conan O'Brien trong vai trò người dẫn chương trình đã khuấy động bầu không khí của buổi lễ và khiến cuộc đua vốn được đánh giá là vô cùng gay cấn của năm nay trở nên “duyên dáng” đáng kể với những mảng miếng hài đặc trưng.

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Bàn phiếm chuyện cái răng, cái tóc

Trong kho tàng tục ngữ Việt Nam, câu "Cái răng, cái tóc là gốc con người" từ lâu đã được xem như một lời nhắc nhở về việc giữ gìn và chăm sóc ngoại hình của mỗi người. Tuy nhiên, khi tra cứu trên Google, không ít người giật mình khi thấy phiên bản "Cái răng, cái tóc là góc con người" lại xuất hiện nhiều hơn: khoảng 49.800 kết quả so với 16.900 kết quả của "gốc con người".

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Xuất khẩu văn chương: Đường dài còn lắm gian truân

Dịch thuật được ví như cái cầu vô hình nối người đọc xa lạ với tác giả xa lạ không cùng ngôn ngữ. Nhờ dịch thuật mà nhiều tác phẩm văn chương Việt được ra ngoài biên giới đến với bạn đọc không cùng tiếng nói. Người dịch là cầu nối tác phẩm văn học nguyên gốc với người đọc, giúp người đọc cảm nhận được sự hay của cái đẹp và bản sắc của văn bản.

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Phim AI có phải dấu chấm hết cho điện ảnh truyền thống?

Trí tuệ nhân tạo đang buộc ngành điện ảnh phải xem lại toàn bộ cấu trúc sản xuất vốn tồn tại hơn một thế kỷ. Khi chi phí có thể được cắt giảm, quy trình được tinh gọn và rào cản gia nhập thị trường bị hạ thấp, AI mở ra một chương mới cho điện ảnh.

Các bài hát đồng dao

Các bài hát đồng dao

LTS: Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) là nhà báo, nhà văn, dịch giả nổi tiếng Việt Nam đầu thế kỷ XX. Ông là người có công lớn trong việc hoàn thiện và phổ cập chữ Quốc ngữ. Trong 30 năm làm báo, Nguyễn Văn Vĩnh là chủ bút 7 tờ báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp; viết hàng nghìn bài báo thuộc nhiều lĩnh vực, nhiều thể loại, đề cập đến các vấn đề trong xã hội từ chính trị, kinh tế đến các phong tục tập quán của người dân…

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Ngựa - linh vật và những bí ẩn

Không phải ngẫu nhiên mà những linh vật ngựa đất nung "Mã Nghênh Phúc Hỷ" màu vàng kim thường xuất hiện trên kệ trang trọng trong các gia đình để đón năm mới. Lịch sử hàng ngàn năm gắn bó với con người đã khiến ngựa trở thành một trong những người bạn thân thiết nhất. Không chỉ đơn thuần là biểu tượng của tin vui và phúc lộc, đằng sau vẻ ngoài oai vệ ấy là cả một hành trình dài làm thay đổi lịch sử loài người và vô số câu chuyện khiến chúng ta phải bất ngờ.

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Vó ngựa kỳ bí trong văn hoá rẻo cao Tây Bắc

Tiếng vó ngựa rộn rã trên những cung đường đèo dốc không chỉ là âm thanh của việc di chuyển, mà còn là nhịp đập văn hóa bền bỉ của đồng bào các dân tộc vùng cao Tây Bắc.

Cành đào huyền sử

Cành đào huyền sử

"Có một Thăng Long Nguyễn Huệ/ Ngựa phi trong sắc hoa đào". (Thơ Đỗ Trung Lai).

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ngày xuân đến phố Bát Đàn mua hàng Bát Sứ

Ở Hà Nội, hiện nay có phố Bát Sứ, không những thế, còn có phố Bát Đàn. Theo “Từ điển đường phố Hà Nội” (NXB Hà Nội - 2010) do Nguyễn Viết Chúc chủ biên, thì khoảng trước năm 1890 người Pháp gọi hai phố này là rue des Tassee (phố Hàng Chén). Từ cách gọi này, ta biết bát còn gọi cái tô là đồ bằng sứ, bằng sành, đất nung dùng để đựng đồ ăn thức uống, tiếng đôi là bát đọi. Tục ngữ có câu: “Một bát một bình” nghĩa của nó là nói về vật dụng đựng cơm nước của người tu hành, về sau có thêm nghĩa phái sinh nhằm nói ai đó giữ một chí hướng, kiên trì làm theo sở nguyện của mình. Thế nhưng tại sao lại gọi đàn/ bát đàn?