Tự Đức - Vua khổ vì thơ

Có rất nhiều giai thoại liên quan mối quan hệ đa chiều giữa Tự Đức với các nhà thơ. Đồn rằng, sau khi đọc Truyện Kiều, Tự Đức sai tìm Nguyễn Du "để đánh vài roi" vì tội khi quân khi viết về Từ Hải: "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!".

Tự Đức là ông vua của một thời kỳ lịch sử phức tạp và phải chịu nhiều cú va đập khốc liệt của thời cuộc. Lên ngôi từ năm 19 tuổi (năm 1848), trong suốt 36 năm ngự trên ngai vàng, Tự Đức đã liên tiếp phải đối mặt với những can qua, từ những mưu phản trong nội bộ hoàng gia tới những cuộc khởi nghĩa nông dân và các cuộc đọ sức với những thế lực bên ngoài mà kết thúc là hai thỏa ước ê chề với thực dân Pháp (ký năm 1883 và năm 1885), khiến cho đất nước phải chia làm ba kỳ và chịu sự bảo hộ của ngoại bang. Thế nhưng, cũng dưới thời Tự Đức, thơ văn đã rất phát đạt, mặc dầu ông vua ham chuộng nghệ thuật này thực ra phần nhiều bị khổ vì các thi sĩ và nghệ sĩ hơn là được vui sướng.

Họa ở trong nhà

Tự Đức là con thứ hai của Thiệu Trị, sinh năm 1829, trước khi làm vua tên là Hồng Nhậm. Mẹ là bà Từ Dụ, một phụ nữ đọc nhiều biết rộng, nghiêm khắc với con. Hồng Nhậm từ khi mới cất tiếng khóc chào đời sức khỏe đã không lấy gì là tốt, đau ốm luôn nên có lẽ khí chất cũng dễ bị cuốn theo hào khí dồi dào của người mẹ vốn là con gái Quốc công Phạm Đăng Hưng.

Sách cũ ghi lại rằng, Tự Đức rất kính trọng phụ mẫu, tự đặt ra lệ, ngày lẻ mới thiết triều lo việc nước, còn ngày chẵn thì lui tới hầu chuyện mẹ (từ lúc lên ngôi cho tới khi qua đời, chỉ trừ những khi nào ngọc thể bất an nhà vua mới dám tạm ngưng thông lệ ấy). Diện kiến phụ mẫu, Tự Đức trước hết tự sửa sang trang phục, nén hơi, quỳ xuống vấn an sức khỏe mẹ mình rồi ngồi vào cùng bàn luận chuyện kim cổ và cả chính sự nữa.

Hàng năm, vào dịp nghỉ, Tự Đức đều theo hầu phụ mẫu tới Thuận An đón gió biển... Những lời bà Từ Dụ nói đều được nhà vua ghi lại thành một tập sách, gọi là "Từ huấn lục". Sách Đại Nam liệt truyện có ghi lại một tình huống cho thấy rõ tác động lớn lao của bà Từ Dụ đối với con trai mình.

Một bận, nhân ngày khánh tiết, bà Từ Dụ cho vời đoàn Thanh Bình vào tại cung Thọ Ninh hát vở "Đường chinh Tây", lớp "Phan Lê Huê tru huynh sát phụ" (Phan Lê Huê diệt anh giết cha). Nghe xong, bà Từ Dụ tỏ vẻ không vui vì cho rằng, những sự việc nói trong lớp tuồng này không hợp thuần phong mỹ tục người Nam mình: "Tài năng như Phan Lê Huê thiếu chi cách thoát hiểm, tại sao lại phải làm những việc nhẫn tâm như thế?! Người đặt truyện đã đặt bậy, cớ sao người đặt tuồng cũng soạn bậy luôn?!".

Nghe vậy, Tự Đức cũng cảm thấy mình có lỗi và cho thu tất cả những kịch bản tuồng đang lưu hành trong dân gian về sửa đổi theo đúng cái tiêu chí mà mẹ mình cho là hay và đúng... Có lần, đi săn gặp mưa lũ, về chậm ngày giỗ cha, vào vấn an mẹ, thấy bà Từ Dụ ngồi xoay ngoảnh mặt vào tường không nói năng gì, Tự Đức đã tự lấy roi mây dâng lên rồi tự nằm xuống xin chịu đòn. Chỉ khi mẹ tha cho, nhà vua mới ngồi dậy... Tôn trọng ý kiến phụ mẫu đến thế xưa nay kể cũng hiếm ở chốn cung đình!

Tuy nhiên, trong ứng xử với phụ mẫu thì ngoan hiền như thế, nhưng khi tham chính, Tự Đức hoàn toàn không phải là một ông vua "mềm tay". Đời sau vẫn lấy làm tiếc và xót xa trước việc ông thảm sát anh ruột và các cháu. Số là, vua Thiệu Trị còn có một người con trưởng, lớn hơn Hồng Nhậm, tên là Hồng Bảo (sinh năm 1825). Khi Hồng Bảo được sinh ra, người cha rất mừng, đã ẵm con mình vào trình bà nội là Thuận Thiên hoàng hậu (vợ vua Gia Long). Rất nhiều người đương thời đã nghĩ rằng nối nghiệp Thiệu Trị sẽ là Hồng Bảo. Bản thân Hồng Bảo cũng đã tin chắc như vậy...

Có điều, Hồng Bảo là con bà thứ, tính tình (như một số sách sử triều Nguyễn ghi lại) lại "vui là chính"... Khi Thiệu Trị băng hà, di chiếu lại ghi tên người nối nghiệp là Hồng Nhậm, làm xôn xao dư luận đương thời. Bị phế truất, lẽ dĩ nhiên là Hồng Bảo không mấy cam chịu và "quậy". Kết cục là tới năm 1854, ông bị kết tội phản nghịch và phải thắt cổ trong nhà giam tự vẫn... Con cái ông cũng bị kết tội can dự phản nghịch và bị hành hình.

Yêu thơ, sướng khổ khôn lường

Ngay từ nhỏ, Hồng Nhậm đã chăm chỉ đèn sách. Hầu như mọi sách vở viết về ông, dù trên quan điểm nào, cũng đều công nhận rằng vua Tự Đức thông minh và hay chữ. Không chỉ một bài thơ của ông được truyền tụng mà có lẽ hay nhất là bài khóc người thị nữ tên Bằng (của đáng tội, gần đây, có những nhà nghiên cứu lại cho rằng bài thơ này là của Nguyễn Gia Thiều). Bài thơ có hai câu tuyệt bút: "Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng, Xếp tàn y lại, để dành hơi...".

Có rất nhiều giai thoại liên quan mối quan hệ đa chiều giữa Tự Đức với các nhà thơ. Đồn rằng, sau khi đọc Truyện Kiều, Tự Đức sai tìm Nguyễn Du "để đánh vài roi" vì tội khi quân khi viết về Từ Hải: "Dọc ngang nào biết trên đầu có ai!".

Tương truyền, Nguyễn Công Trứ vốn có công tổ chức khẩn hoang ở vùng ven biển, lập ra hai huyện Tiền Hải ở Thái Bình và Kim Sơn ở Nam Định. Dân nghèo lưu vong nhờ ông mà có quê hương mới, làm ăn khấm khá nên rất biết ơn ông, mỗi khi đón ông về thường bày ra lễ đón rước rất linh đình. Những kẻ đố kị thấy vậy, bẩm tấu với triều đình, cơ hồ như ông có mưu làm phản.

Bị triệu về kinh đô Huế, Nguyễn Công Trứ vào chầu vua Tự Đức. Khi vua hỏi tình hình dân chúng ở Tiền Hải và Kim Sơn, nhà thơ tâu rằng: "Ở đó vui vẻ lắm, người dân ngày lo việc đồng áng, tối về xay lúa, giã gạo, làm gì cũng hò hát. Mà toàn là những câu rất hay ho..".--PageBreak--

Vốn chuộng văn chương, Tự Đức tò mò hỏi: "Thế họ hò hát những câu như thế nào?". Nguyễn Công Trứ thưa ngay: "Dạ thưa, thí dụ như câu đố này: Giơ lưng cho thế gian ngồi, Ngồi rồi, trở lại kêu người bất trung". Vua hỏi: "Đó là cái gì?" - "Tâu bệ hạ, đó là cái phản!". Tự Đức chắc cũng hiểu thâm ý của bề tôi nên lại hỏi tiếp: "Còn câu gì nữa không?". Nguyễn Công Trứ đọc luôn: "Ngay lòng ở với nước nhà, Người dù không biết, trời đà biết cho". Và ông giải thích đó là cái máng. Không rõ vua có nhớ tới câu thành ngữ "cạn tầu ráo máng" hay không nhưng vẫn muốn Nguyễn Công Trứ đọc tiếp cho nghe. Nhà thơ đọc:

Chuông già, đồng điếu chuông kêu,

Anh già lời nói, em xiêu tấm lòng.

Quốc sĩ vô song là người Hàn Tín.

Anh nỏ thương em, em đến chi đây?

Bốn bề rồng ấp lấp mây!

Nghe đến vậy, nhà vua dường như cũng hiểu ra tâm sự của Nguyễn Công Trứ và cho điều tra mọi việc kỹ càng để biết rõ sự thật rồi cấp cho nhà thơ đang ở tuổi 75 này tiền lộ phí về nhà cùng những lời vỗ về an ủi.

Và cũng oái oăm thay, Tự Đức cũng là ông vua bị nêu tên nhiều nhất trong các giai thoại dở khóc dở cười dính dáng tới các thi nhân bậc nhất nước Nam thời đó, đặc biệt là Cao Bá Quát... Thi nhân "Thập tải luân giao cầu cổ kiếm, Nhất sinh đê thủ bái mai hoa" (Mười lăm năm lặn lội tìm thanh kiếm cổ, Cả đời chỉ quỳ lạy trước hoa mai) bản tính cao ngạo và có vẻ như thích lỡm những thượng cấp đã ở nơi vinh hoa tột đỉnh rồi lại vẫn muốn khoác thêm lên mình vòng nguyệt quế của thơ...

Khi vừa lên ngôi, nghe danh tiếng lừng lẫy của anh em nhà họ Cao, Tự Đức đã cho vời họ vào. Vua ra vế đối: "Nhất bào song sinh, nan vi huynh nan vi đệ" (một bọc sinh đôi, khó làm anh, khó làm em). Cao Bá Quát đáp lại: "Thiên tái nhất ngộ, hữu thị quân hữu thị thần" (nghìn năm gặp một, có vua ấy thì có tôi ấy). Mới nghe thì có vẻ như Cao Bá Quát muốn tôn vinh vua (vua giỏi thì mới có tôi giỏi). Tưởng vậy, nên Tự Đức đã hồ hởi khen ngợi bút lực của nhà thơ họ Cao. Thế nhưng, như nhiều chuyên gia nghiên cứu văn học nhận xét, thực ra ý tình của Cao Bá Quát nằm ở sắc độ khác: Ông muốn thách thức vua, ngài thế thì tôi cũng thế theo kiểu vỏ quýt dày có móng tay nhọn!..

Có lần, làm quan trong triều rồi, họ Cao còn cả gan bịa thơ để lỡm Tự Đức. Một bận thiết triều, vua khoe hai câu thơ mới nghĩ ra đêm qua:

Viên trung oanh chuyển "khề khà" ngũ,

Dã ngoại đào hoa "lấm tấm" khai.

Sự độc đáo của hai câu thơ trên là ở chỗ trong đó có cả chữ Hán lẫn chữ nôm. Quần thần ai nấy đều tấm tắc ngợi ca tài thơ của "trẫm". Riêng Cao Bá Quát thản nhiên: "Tâu Bệ hạ, từ hồi ở chỏm mới đi học, thần đã nghe hai câu thơ ấy rồi! Nó ở trong một bài thơ bát cú!". Tự Đức lấy làm lạ và cáu kỉnh vì quả thực ông vừa nghĩ ra hai câu thơ ấy. Tuy nhiên, nhà vua cũng đủ sự bình tĩnh để bảo Cao Bá Quát đọc cho mình nghe hết cả bài thơ. Làm ra vẻ hồi tưởng lao lung một lát, nhà thơ họ Cao đọc liền một mạch:

Bảo mã Tây phương huếch hoác lai,

Huyênh hoang nhân tự thác đề hồi.

Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ,

Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai.

Xuân nhật bất văn sương lộp bộp,

Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài.

Khù khờ thi tứ đa nhân thức,

Khệnh khạng tương lai vấn tú tài.

Có thể dịch nghĩa bài thơ trên như sau: "Ngựa báu từ phía Tây huếch hoác lại, Người huênh hoang nhờ cậy dìu về. Trong vườn chim oanh hót giọng khề khà, Ngoài đồng hoa đào nở lấm tấm. Ngày xuân chẳng nghe tiếng sương rơi lộp bộp, Tiết thu chỉ thấy mưa rơi bài nhài. Tứ thơ khù khờ đã nhiều người biết, Khệnh khạng còn mang đến hỏi tú tài". Chẳng chê vào đâu được, biết mình bị xỏ nhưng Tự Đức cũng đành phải "ngậm bồ hòn làm ngọt", thậm chí còn sai thưởng chè và quế cho Cao Bá Quát. Nói cho cùng, cũng là một người làm thơ, nhà vua quá hiểu phải tài cao đến đâu mới có thể trong vài ba phút ứng tác được một tác phẩm như thế.

Cao Bá Quát còn nhiều lần nữa "lỡm thơ" Tự Đức và cuối cùng đã dấy lên một cuộc khởi nghĩa nông dân chống lại triều đình. Sa cơ, trước khi chịu án tử hình, nhà thơ họ Cao đã cảm khái hai câu:

Ba hồi trống giục, đù cha kiếp,

Một nhát gươm đưa, bỏ mẹ đời!

Nói chung, đã là một thi nhân đích thực theo đúng nghĩa nguyên thủy của từ này thì khó mà mãi nhẫn chịu cảnh "bó thân về với triều đình", ngay cả khi đứng đầu triều đình ấy là một ông vua ham chuộng thơ văn như Tự Đức

Yên Đình

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...